Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

Xuống giống ốc nhồi.

Xuống giống ốc nhồi ngày 14/09/2021
Xuống giống 500 con ốc nhồi.

 Ốc con ươm trong bể bạt.

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

Kỹ thuật nuôi cua đồng trong ao và trong ruộng


 Nuôi cua đang là nghề hấp dẫn. Ảnh: kythuatnuoitrong.edu.vn

1. Chuẩn bị ao, rộng nuôi

* Đối với ao nuôi

- Nguồn nước phải chủ động, không ô nhiễm.

- Có cống cấp và cống thoát nước riêng biệt.

- Đáy ao tốt nhất là đất thịt, có lớp bùn dày 20cm là vừa.

- Ao nuôi có diện tích từ 300-1.000m2, độ sâu 0,8-1,2m.

- Xung quanh bờ phải rào bằng đăng tre, tấm nhựa hoặc lưới cước đặt nghiêng về phía ao không cho cua thoát ra được.

* Đối với ruộng nuôi

Chọn ruộng nuôi địa thế ruộng bằng phẳng, giữ nước tốt, nguồn nước dồi dào, cấp thoát nước thuận lợi, chất nước không bị ô nhiễm, chất đất là loại đất thịt.

- Diện tích mỗi ruộng từ 1/3 ha đến 2/3 ha là vừa, nhỏ quá chất nước không ổn định, lớn quá khó quản lý.

- Đào mương nuôi tạm ở góc ruộng hoặc ở ria ruộng, rộng 4-6 m, sâu 1-1,5 m, diện tích khoảng 3—5% diện tích ruộng.

- Đào mương bao quanh và mương giữa. Mương bao quanh chân bờ về phía trong 1m, sâu 0,8-1,0m, rộng 3-5m. Nếu ruộng rộng, đào thêm ở giữa ruộng hình chữ “+” hoặc “#” rộng 1-1,5m, sâu 0,5-0,8m. Tổng diện tích cả 3 loại mương chiếm khoảng 15-20% diện tích đất ruộng.

- Lấy đất đào mương để đắp bờ ruộng cho cao và to ra. Chú ý nện đất chặt để nước bị rò rỉ. Các cửa cống cấp thoát nước phải chắn bằng săm hoặc lưới thích hợp, nền cống phải đầm chặt.

- Đặt lưới chắn xung quanh ruộng. Nếu lưới bằng nilon mỏng thì phải đóng cọc cao hơn mặt bờ 40-50cm, lấy dây thép buộc nối các đầu cọc với nhau, gấp đôi tấm nilon lên dây thép cho rủ xuống đất thành 2 lớp rồi vùi sâu trong đất bờ từ 15-20cm. Nếu chắn bằng tấm nhựa hoặc fibroximăng… thì chỉ cần vùi xuống đất 15-20 cm, đầu trên cao hơn mặt đất ít nhất là 40cm, bốn góc lượn hình cung.

- Dùng vôi sống hàm lượng 75-105 kg/1000m2 hoà nước té đều khắp mương.

- Trồng các loại cỏ nước phủ kín đáy mương và thả các loại cây nổi như bèo tấm, rau dừa nước, bèo cái…khoảng 1/3 mặt nước.

2. Cải tạo ao, ruộng nuôi

Trước khi nuôi 1-2 tuần, tiến hành tát cạn nước để diệt hết địch hại của cua và tiêu diệt mầm bệnh, bằng cách bón vôi 7-10 kg/100 m2, phơi nắng 3-5 ngày sau đó cấp nước vào ao, đối với ruộng thì cấp nước vào nhưng không cho nước tràn lên ruộng, chỉ khi nào đến thời kỳ lúa sắp làm đòng mới cấp nước lên ruộng cho cua lên ruộng tìm thức ăn.

- Tiến hành gây màu nước cho ao bằng phân chuồng hoặc phân hóa học để tạo nguồn động vật phù du phát triển làm thức ăn cho cua giống mới thả.

- Trong ao, ruộng nuôi nên chất chà làm nơi trú ngụ cho cua lúc cua lột xác tránh bị hao hụt, có thể thả thêm bèo, rau muống, rau dừa nước … để che phủ ao vào những ngày nắng gắt. Độ che phủ khoảng 1/3 diện tích mặt ao.

3. Chọn và thả giống

- Thời vụ thả giống thường từ tháng 2 - 4 hằng năm

- Chọn con giống khỏe mạnh, không bị bệnh tật, đầy đủ càng và chân, màu sắc tươi sáng không bị đóng rong có thể chọn cua đực để nuôi góp phần tăng năng suất và giá trị thương phẩm.

- Mật độ: nuôi ao: 10-15 con/m2, nuôi ruộng: 5-7 con/m2.

- Thả cua ta không nên thả trực tiếp xuống ao mà phải thả từ mé bờ ao cho cua tự bò xuống ao, ruộng tránh hiện tượng cua bị sốc môi trường.

4. Chăm sóc cua

- Thức ăn cho cua rất đa dạng thiên về động vật bao gồm cá tạp, ốc, hến, khoai lang, khoai mì…thức ăn nên bằm nhỏ vừa cỡ miệng cua.

- Khẩu phần ăn từ 5-8 % trọng lượng cua/ngày và được chia làm 2 lần trong ngày, sáng sớm ăn 20 - 40% và chiều ăn 60 - 80 % trọng lượng thân. Thức ăn phải còn tươi không bị ôi thiu, nấm mốc.

- Cần cho cua ăn thức ăn vừa đủ để đảm bảo chất lượng nước vừa giúp cua tiêu hóa tốt thức ăn và hạn chế hao phí thức ăn, hạ giá thành nuôi. Trong ao ruộng nuôi cần bố trí một số sàng ăn để đánh giá tình trạng bắt mồi của cua và đồng thời căn cứ vào điều kiện thời tiết mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

5. Thức ăn cho cua

* Thức ăn

Cua là động vật ăn tạp thiên về thức ăn động vật. Chúng thích ăn thịt các loại nhuyễn thể như trai, ốc, hến, cá tạp. Nếu thiếu thức ăn chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau, nhất là cua mới lột vỏ. Thức ăn nuôi cua thường được khai thác tại chỗ. Trước khi thả giống, nên bón phân lót ở ven mương với lượng 300-450 kg/1000m2 để động vật phù du phát triển làm thức ăn cho cua con. Từ tháng thứ 4 nên thả ốc giống vào ruộng (450-600kg/1000m2 hoặc thả tôm ôm trứng để sinh sản thành tôm con làm thức ăn cho cua cỡ lớn hơn. Ngoài ra có thể dùng các loại thức ăn đã chế biến dạng hạt vừa có dinh dưỡng cao. Nếu có điều kiện thì tận dụng cá tạp và phế thải động vật để giảm giá thành.

* Cho ăn

Căn cứ vào mùa vụ, nhiệt độ nước và giai đoạn sinh trưởng của cua để cho ăn hợp lý.

- Từ tháng 3 đến tháng 5, cua chủ yếu ăn thức ăn tinh. Thức ăn nên làm thành các nắm bột nhão nhỏ. Lượng thức ăn từ 20-30% trọng lượng cua.

- Từ tháng 6 đến tháng 9, cua ăn khoẻ, mau lớn nên cần cho ăn thêm rong cỏ, khoai sắn, bổ sung thức ăn viên hoặc thức ăn tự chế từ cá tạp.

- Từ tháng 10 trở đi, cần tăng thêm thức ăn từ động vật. Lượng thức ăn từ 7-10% trọng lượng cua.

- Mỗi ngày cho cua ăn 2 lần, buổi sáng sớm và chiều tối. sáng cho ăn từ 20-40%, chiều cho ăn chính là 60-80% tổng lượng thức ăn hàng ngày.

- Cần đặt sàng ăn tại 1 số điểm trong mương để kiểm tra lượng thức ăn của cua. Căn cứ vào thời tiết, nhiệt độ, tình hình ăn mồi của cua để điều tiết lượng thức ăn hàng ngày

6. Quản lý cua

- Thường xuyên thay nước cho ao, ruộng nuôi khoảng 1 tuần/lần để kích thích cua lột xác và bắt mồi mạnh, mỗi lần thay nước từ 1/4-1/3 lượng nước trong ao, mương.

- Định kỳ bón vôi cho ao ruộng nuôi 15 ngày/lần với liều lượng 2-3 kg/100m2 hòa vào nước, lấy nước trong tạt đều khắp ao.

- Thường xuyên kiểm tra đăng chắn cống, bờ rào chắn để tránh cua thất thoát ra ngoài.

7. Thu hoạch cua

Thời điểm thu hoạch chủ yếu là vào tháng 10.

- Khi cua đạt kích thước thương phẩm được giá cao có thể tiến hành thu hoạch.

- Thu tỉa bằng cách đặt lờ, lợp… tát cạn, bắt bằng tay nếu thu toàn bộ.

- Cua nhỏ không đủ cỡ thương phẩm được để lại nuôi tiếp cho vụ sau.

Theo kythuatnuoitrong.edu.vn

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

PHƯƠNG PHÁP TRỒNG ỚT CHARAPITA

                             PHƯƠNG PHÁP TRỒNG ỚT CHARAPITA
                                                  

Ớt Charapita là một loài cây mọc hoang dã trong rừng sâu phía Bắc Peru, nên điều kiện nuôi trồng của cây hết sức ngặt nghèo về độ ẩm độ cao nhiệt độ cũng như môi trường chất lượng đất, chất lượng không khí.


Lưu ý: Phải là loại đất phải sạch không nhiễm hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, được xử lý than hoạt tính nhằm loại bỏ hoàn toàn kim loại độc hại v.v…, dinh dưỡng cho cây ngoài phân hữu cơ đã được ủ hoai, còn dùng sữa tươi, bột cá, đậu tương nhằm tăng hương vị và dinh dưỡng, các loại dinh dưỡng cung cấp cho cây phải được kịch hoạt bởi nấm đối kháng và vi khuẩn có lợi, trước khi tưới cho chúng.
HƯỚNG DẪN ƯƠM HẠT ỚT CHARAPITA
Bước I: Chuẩn bị dụng cụ và đất trồng.
– Về khay ươm:
Bạn có thể sử dụng khay ươm hoặc chậu nhỏ, Một lưu ý quan trọng là bạn nên ươm hạt trong chậu nhỏ hoặc khay ươm hạt trước để chúng ta có thể dễ dàng kiểm soát độ ẩm của đất, sâu bệnh và dinh dưỡng cho cây con
– Thuốc trừ nấm: Bạn nên chuẩn bị sẵn thuốc trừ nấm loại Trocdecma, xịt lên đất 2-3 lần cách nhau 5 ngày, vì tỉ lệ nấm bệnh trong đất trồng khá cao nên cần được xử lý kĩ.
– Về đất trồng: Đất dùng để gieo hạt giống cần sử dụng hỗn hợp cám dừa và tro trấu (trộn tỉ lệ 7:3 hoặc 100% cám dừa) đều cho kết quả lên mầm ổn định hơn gieo hạt bằng đất sạch. Tuy nhiên cám dừa cần phải được xử lý tốt bằng cách ngâm xả nhiều lần bằng nước sạch thì mới sử dụng được.
Bước II: Ngâm ủ hạt giống.
– Bước 1 :  Pha nước ấm ngâm hạt giống theo tỉ lệ 2 nước sôi + 3 nước lạnh ( khoảng 35 độ C – 40 độ c
– Bước 2 : Cho hạt giống cần ngâm vào nước ấm vừa pha, thời gian ngâm hạt: khoảng 3 đến 4 giờ.
– Bước 3: Vớt hạt giống ra khỏi dụng cụ ngâm hạt. Có thể dùng ray để vớt hạt cho tiện.
– Bước 4 :Ủ hạt giống bằng cách trải đều hạt giống đã ngâm  trên  khăn giấy thấm nước  được đặt trong một dụng cụ có bề mặt tương đối bằng phẳng ( hộp, khay , dĩa..), có thể dùng bông gòn hoặc vải mềm sẫm màu. Không dùng khăn giấy có mùi thơm.
– Bước 5 : Phủ kín hạt giống cần ủ cũng bằng khăn giấy, bông gòn, hay vải mềm sẫm màu, đặt hộp ( khay, đĩa ) hạt giống cần ủ vào nơi có bóng tối. nhiệt độ ủ lý tưởng cho hạt nảy mầm khoảng 15 – 20 độ, luôn đảm bảo giữ ẩm hợp lý cho hạt giống, tránh quá sũng nước hay quá khô. Khoảng 15 – 20 ngày, hạt sẽ nảy mầm.
Bước III:  Gieo hạt.
– Sau khi hạt nảy mầm ta dùng kẹp hoặc nhíp gắp nhẹ các hạt đã nảy mầm đặt lên các khay đất đã được chuẩn bị sẵn, sau đó lấp hạt với độ sâu bằng 2 đến 3 lần đường kính của hạt khoảng 0,5 cm đất sau đó phun sương cho hạt bám vào bề mặt đất trồng là được.
Với các vùng lạnh, sau khi gieo chúng ta nên sử dụng màng thực phẩm hay tấm kính đậy lại miệng chậu hoặc khay ươm để tặng độ ẩm sau đó đặt chậu nơi dâm mát giúp cho hạt nảy mầm nhanh hơn. Các loại hạt xứ nóng thì không cần phải làm bước này.
Bước IV: Chăm sóc hạt sau khi gieo.
– Nhiệt độ: cây có thể nảy mầm ở nhiệt độ từ 20 đến 25*C
– Độ ẩm của đất trồng: phải luôn đảm bảo độ ẩm cho đất, không được để cho đất bị khô hay sung nước. Tùy theo điều kiện nơi gieo hạt mà chúng ta quyết định xem bao nhiêu lâu thì nên tưới một lần.
– Vị trí đặt chậu: Chúng ta nên đặt chậu hoặc khay ươm nơi có ánh sáng khuếch tán (có thể để dưới bóng cây hoặc dùng che bóng để tạo ra ánh sáng khuếch tán nhân tạo). Ánh sáng cần thiết cho việc nảy mầm nhưng nếu mạnh quá nó sẽ làm chết đọt mầm.
– Thay chậu hoặc chuyển trồng trực tiếp trên đất: Khi cây con đã lớn đến mức độ nhất định (thân, rễ phát triển cứng cáp…) chúng ta có thể chuyển qua chậu to hơn hoặc chuyển trực tiếp trồng trên nền đất. Lưu ý trước khi chuyển ta nên bón lót trước đất trồng bằng phân bón hữu cơ.
– Bón phân: đối với cây con, hệ rễ non vẫn chưa đủ mạnh để hấp thu các loại phân bón có nồng độ cao cho nên dùng các loại phân bón lá là thích hợp nhất. Thông thường chúng ta chỉ nên tưới phân bón lá bằng 1/2 hoặc 1/3 nồng độ trên bao bì hướng dẫn.
QUY TRÌNH TRỒNG 
Hạt giống sau khi nảy mầm được đưa vào nuôi trong vỉ ươm để nuôi dưỡng. 
Giá thể trồng cây đã được xử lý kỹ và đất trồng cần được xử lý kĩ

Sau 30 ngày trồng cây con trong vỉ ươm, lúc này cây con đã đạt chiều cao từ 5 – 10 cm và có từ 4 – 5 cặp lá, tiến hành trồng qua bầu đất.
Đất trồng được lấy ở tầng dưới từ 20 – 30 cm so với mặt đất, sau đó đem phơi khô, tưới nước vôi để khử khuẩn và cân đối độ pH , sau đó tiếp tục phơi khô để tạo sự thông thoáng cho đất.
Phân bò đã ủ trộn vs than và men trong 2 tháng sau khi phân bò đã nguội thì tiếp tục lấy nấm vi sinh ngâm với nước, đường để kích hoạt bào tử nấm trong 24 h sau đó tưới vào phân bò đã ủ.
Ngoài ra, bổ sung thêm phân lân để tăng cường hỗ trợ hàm lượng vi lượng và Silic để ức chế, ngăn sự lây nhiễm, lây lan sâu bệnh hại, giải độc cho đất, tang cường sức đề kháng cho cây sau khi trồng.
Chăm sóc và phát triển cây.
Trong quá trình nuôi trong bầu cây luôn đảm bảo cung cấp đủ lượng nước và chất dinh dưỡng bổ sung cần thiết, đảm bảo cho sinh trưởng và phát triển của cây.

Về độ ẩm: tưới nước vừa phải, thời điểm tưới vào ban đêm;
Về chất dinh dưỡng: Bổ sung xác, bã động vật ( ruột cá nước ngọt, phân trùn quế, … ), các loại đậu. đỗ lên men, ngâm với nước đường và nấm vi sinh .
Ngoài ra, thường xuyên tiến hành phun định kỳ các loại nấm vi sinh có lợi để tạo thiên địch phòng trừ sâu bệnh hại
Đến thời điểm sau 50 ngày trồng trong bầu, Các chỉ tiêu: Chiều cao trung bình đạt 27,5cm, đường kính tán trung bình đạt 15,5cm, đường kính cổ rễ đạt 0,2cm và tiếp tục gia tăng.

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Đang cập nhập!



Đang cập nhập nội dung...!

Khởi công múc ao mới

 

Khởi công múc ao nuôi cá vào 10/052021 tại thôn Nậm Mả Xã Nậm Mả Huyện Văn Bàn Tỉnh Lào Cai.

Diện tích ao: 100 mét vuông. 

Mục đích sử dụng: Thả cá

Dự tính vào tháng 07/2021 đưa vào sử dụng.

Một số hình ảnh tổng quan về ao nuôi cá mini

Nhìn từ xa

                                                                 Mặt cấp nguồn nước


                                                                     Cửa tràn và cống tát ao
                                                                                                                            By: VỪ A CHÌNH


Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

TĂNG GẤP ĐÔI HIỆU QUẢ NHỜ NẮM VỮNG KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN

Kỹ thuật nuôi lươn không bùn áp dụng cho mô hình nuôi thương phẩm cho sản lượng thịt cao. Phương pháp này đòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe về cách xây dựng bể, chọn giống cho đến nguồn thức ăn, quy trình chăm sóc và trị bệnh. Áp dụng đúng quy cách chăn nuôi, nhiều hộ nông dân đã thu lãi hàng chục triệu đồng mỗi tháng, mang lại nguồn thu nhập ổn định, hiệu quả cao.

 BẬT MÍ KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN NHÂN ĐÔI HIỆU QUẢ KINH TẾ

Kỹ thuật nuôi lươn không bùn

Thu lợi cao từ mô hình nuôi lươn không bùn mới 

Lươn có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, các loại vitamin và khoáng chất. Thịt lươn được sử dụng để chế biến nhiều món ăn hấp dẫn lại có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho mọi lứa tuổi. Để đáp ứng nhu cầu lươn thương phẩm, mô hình nuôi lươn không bùn kiểu mới được nuôi thử nghiệm tại nhiều địa phương và cho nhiều kết quả tích cực, mang đến nguồn lợi nhuận cao cho người chăn nuôi:

  • Thuận tiện trong việc quan sát, chăm sóc, theo dõi số lượng và kịp thời phát hiện dịch bệnh do lươn không chui rúc trong bùn như mô hình cũ. 
  • Giảm thất thoát 
  • Khả năng tăng trưởng nhanh, thích ứng tốt với dịch bệnh 
  • Dễ dàng xử lý nước bể nuôi, hạn chế tối đa mầm bệnh sản sinh và gây hại. 
  • Dễ dàng xử lý, kiểm soát độ pH của nước cấp vào bể nuôi đảm bảo môi trường phát triển thuận lợi nhất cho lươn. 
  • Vốn đầu tư ít, không yêu cầu quá nhiều diện tích, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh 
  • Rút ngắn thời gian chăm sóc, tận dụng được phụ phẩm nông nghiệp, cho năng suất ổn định.

 

Có thể nói mô hình nuôi lươn không bùn theo hình thức thâm canh là hướng đi mới trong nuôi trồng thủy sản góp phần chuyển đổi ngành nghề ở địa phương, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tự cung tự cấp theo hướng nông nghiệp kỹ thuật cao gắn với công nghiệp chế biến. 

Nhưng cũng vì những lời “mời chào lợi nhuận khủng” mà không ít hộ nông dân ồ ạt chuyển đổi sang nuôi lươn không bùn trong khi chưa tìm hiểu kiến thức, kỹ năng chăn nuôi. Hệ quả không ít gia đình điêu đứng vì lỗ. 

Bài viết nên tham khảo: Tư vấn máy làm thức ăn cho cá theo chuỗi quy trình khép kín A-Z

Máy làm thức ăn cho cá

Vì vậy để nghề nuôi lươn không bùn mang mang lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu rủi ro, trước khi bắt tay vào nuôi, bà con phải nắm được những kỹ thuật nuôi quan trọng dưới đây

1. Bể nuôi lươn 

Bà con có thể tận dụng chuồng nuôi lợn cũ sửa sang lại làm chuồng nuôi lươn để tiết kiệm chi phí xây dựng.

Còn nếu xây bể mới, bà con cần đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:

  • Vị trí: Gần ao, kênh, mương để thuận tiện cho việc cấp thoát nước. Tuy nhiên vị trí nuôi phải dễ dàng quản lý và chăm sóc. Nếu xây dựng mô hình chăn nuôi rộng, bà con nên xây thành các bể hình vuông hoặc hình chữ nhật liền kề nhau. Khoảng cách giữa các bể là 60cm tiện cho việc đi lại, chăm sóc.
  • Kích thước: Rộng 1,2 - 2m, dài 2 -5m, cao 1 - 1,2m.
  • Đáy: Bể nên có độ nghiêng khoảng 3 độ về phía cống thoát nước để thuận tiện cho việc thay nước. 
  • Đặt ống nhựa: Ở góc có cống thoát nước, đặt ống nhựa tròn, đường kính 4 - 6cm, dài 40 - 60cm nằm toàn bộ bên trong bể, phần miệng được hàn kín và lắp vào cống thoát nước. Trên thân ống nhựa đục lỗ nhỏ thoát nước nhưng không để lươn chui qua. Miền bên ngoài có nắp chắn, khi cần thay nước, chỉ cần mở nắp chắn đó. 
  • Đòn: Bắc ngang qua mặt bể một chiếc đòn bằng gỗ hoặc bằng tre chắc chắn.
  • Chuẩn bị nilon tái sinh: Lấy vài chục đoạn nilon, mỗi đoạn dài 1,2 - 1,5m, rộng 0,6 - 1cm buộc chắc 1 đầu sau đó treo lên đòn, đầu còn lại thả tự do trong bể làm chỗ cho lươn trú ngụ, làm tổ. Dây nilon phải được xử lý trước 10 -15 ngày khi thả vào bể nhằm đảm bảo an toàn cho lươn. 
  • Căng lưới: Bà con cũng có thể làm giàn lưới bằng tre, treo hoặc kê ở bên dưới làm chỗ trú ngụ cho lương. Nên dùng khúc tre tròn, được vót cẩn thận để không làm tổn thương chúng.
  • Nước bể: Nước bể phải sạch, độ cao mực nước từ 30 - 40cm. 
  • Mái che: Nuôi lươn trong bể xi măng nên làm mái che nắng, che mưa vì lươn không chịu được ánh sáng mạnh và nắng nóng
  • Bảo vệ: Quay khu nuôi phải được bảo vệ tránh chuột, mèo, rắn, chim ác.
  • Nếu không gần nhà, bà con có thể xây thành một khu riêng biệt có hàng rào cao, an toàn. 

 

Tóm lại, môi trường trong bể nuôi lươn cần phải đạt các chỉ số sau:

Mức nước bể nuôi (cm)pHNhiệt độ (độ C)Oxy (mg/lít)NH3 (mg/lít)Độ mặn (0/00)
30 - 406,5 - 825 - 322< 26

2. Chọn giống 

Hiện nay, lươn có khoảng 3 loại giống:

- Lươn màu vàng sẫm: sinh trưởng và phát triển tốt nhất rất phù hợp với mô hình nuôi thương phẩm.

- Lươn màu vàng xanh: Phát triển bình thường.

- Lươn có màu xám trò: phát triển chậm không phù hợp với mô hình nuôi thương phẩm.

 Giống lươn có thể khai thác ngoài tự nhiên hoặc mua lươn giống ngoài thị trường. 

  • Yêu cầu chung khi chọn giống:

Chọn lươn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, không bị bệnh tật, màu da sặc sỡ, trên thân không có vết thương tích.

Chọn lươn đồng kích thước để nuôi cùng một bể giúp chúng sinh trưởng và phát triển tốt.

Nuôi để sinh sản lấy giống cần phân biệt đực - cái:

- Con lươn cái: Phần đuôi nở to, trông như ngắn lại, thân mình bầu bĩnh hơn. Phần bụng lươn mềm, to, da mỏng, lỗ hậu môn rộng, hơi đỏ hồng. Kích thước chiều dài từ 22 - 26cm.

- Con lươn đực: Đuôi vót nhọn dần, trồng như vừa dài ra. Phần bụng nhỏ và rắn, mõm nhọn, đầu thon, năng động hơn con cái. Kích thước chiều dài từ 54cm phần lớn là con đực.

  • Khai thác giống ngoài tự nhiên:

Bà con có thể bẫy ở ao, bờ mương, bờ ruộng… Có thể sử dụng lưới giăng ở hố cống phía dưới rồi dùng vôi rắc ở hố cống phía trên để dồn lươn.

Sử dụng ống trúm đã có mồi để bắt lươn. Đặt ống trúm ở vị trí lươn hay tới qua đêm, sáng hôm sau ra thu.

Vào mùa sinh sản, tìm hang có bọt trắng trào ra, ở những nơi này hay có trứng lươn. Ta dùng vợt để vớt trứng lươn đem đi ương. Trứng có thể nở sau 1 tuần với điều kiện nhiệt độ 25 - 30 độ C.  

Tuy nhiên phương pháp này thường dùng cho quy mô nuôi gia đình nhỏ lẻ.

  • Mua lươn giống:

 

Do nhu cầu nuôi thương phẩm ngày càng cao nên không ít trang trại chăn nuôi đã nhân giống và bán giống lươn. Trước khi mua giống, bà con nên tìm hiểu và lựa chọn đơn vị uy tín. Dưới đây là bảng giá lươn giống, bà con có thể tham khảo:

 Loại sản phẩm (con/kg)          Giá bán lươn giống          
 Trọng lượng 1.400 - 1.600                    3.000 đồng/ con
 Trọng lượng 500 - 7004.000 đồng/ con
 Trọng lượng 250 - 3505.000 đồng/ con
 Trọng lượng 80 - 100350.000 đồng/kg
 Trọng lượng 50 - 70320.000 đồng/ kg
 Trọng lượng 20 - 25260.000 đồng/ kg

3. Kỹ thuật thả giống, mật độ nuôi

Thả giống

Trước khi thả giống lươn, bà con nên tẩy trùng để tiêu diệt mầm bệnh, vì mầm bệnh khó phát hiện bằng mắt thường, nếu thả chúng xuống bể nuôi cùng những con khỏe mạnh thì sẽ làm lây lan cả đàn. Bà con có thể áp dụng một trong những cách sau đây:

  • Cách 1: Dùng muối ăn 3 - 4% để tắm cho đàn lươn khoảng 5 phút trước khi cho vào bể nuôi. 
  • Cách 2: Dùng dung dịch thuốc tím 0,5% tắm cho đàn lươn (Cách này cũng có thể sử dụng cho ba ba và ếch)
  • Cách 3: dùng cây phân xanh (cỏ lào) dã nát lấy nước đém té trực tiếp vào bể đang chứa lươn con giống. Ngâm lươn con trong bể này 1 ngày, 1 đêm thì đem chúng ra nuôi ở bể đã chuẩn bị. 

 

Trường hợp khi đang khử trùng cho lươn mà thấy chúng có biểu hiện bất thường, ngoi lên khỏi mặt nước, bà con nên vớt chúng ra và tắm bằng nước sạch khoảng 10 -15 phút trước khi cho vào bể xi măng. 

Thời điểm thả giống thích hợp là vào đầu mùa mưa, thời điểm sáng sớm trước 10 giờ hoặc chiều mát 

Mật độ

  • Nuôi lươn thịt : 20 - 25 con/m2
  • Nuôi lươn giống: 40 - 60 con/m2
  • Một độ ương giống: 60 - 200 con/m2

Nếu lươn giống đạt cỡ 10 - 15cm, bà con có thể thả với mật độ từ 50 - 150 con/m2 tùy vào điều kiện nguồn nước, thức ăn.

Mùa vụ nuôi lươn thích hợp nhất là từ tháng 6 - 12, thời điểm này lươn ăn khỏe, đồng thời nguồn thức ăn cũng dồi dào, dễ kiếm.

4. Thức ăn cho lươn nuôi

Nguồn thức ăn:

Lươn là loài ăn tạp nhưng chủ yếu là động vật có chất tanh. Nguồn thức ăn chính của lươn gồm: các loại giun, cá tạp, ốc bươu, ốc đồng, nhộng tằm, sâu bọ, các loại phế phẩm từ lò mổ gia súc, gia cầm… 

Để kích thích chúng nhanh lớn, nhiều hộ nuôi cho lươn ăn cám công nghiệp, cám tăng trọng. Tuy nhiên cám này bán ngoài thị trường thường có giá thành cao, nếu không rõ nguồn gốc thì trong cám có chứa chất cấm, chất tăng trọng nên mặc dù lươn lớn nhanh nhưng thịt không ngon, chất lượng không đạt tiêu chuẩn. Vì vậy, các hộ chăn nuôi có thể thay thế cám công nghiệp bằng thức ăn tự sản xuất giàu dinh dưỡng. 

Cách chế biến thức ăn:

Bà con có thể tự làm “cám công nghiệp” bằng cách tận dụng ngô, thóc, gạo, các loại hạt đậu tương, đậu phộng, chế phẩm sinh học, mật rỉ đường… trộn với tỉ lệ thích hợp sau đó sử dụng các loại máy chế biến thức ăn chăn nuôi đa năng 3A để nghiền nhỏ, nấu chín làm thức ăn cho lươn.

Máy băm nghiền đa năng 3A 

Các loại thức ăn tươi sống cần được nghiền nhỏ, xay nhuyễn, bà con nên cần đến sự hỗ trợ của máy để nghiền các loại thức ăn tươi sống một cách nhanh gọn, cho năng suất cao, giúp quá trình trộn và cho ăn trở nên dễ dàng, đơn giản hơn rất nhiều.

 Máy băm nghiền đa năng

Để nuôi lươn đạt năng suất cao, đàn lươn lớn nhanh, chất lượng thịt tốt, bà con có thể trộn đều cám tự chế ở trên với bột nghiền cua ốc, bổ sung thêm một số vitamin và thảo dược. 

Tỉ lệ 2 thành phần chính là 30% cám : 70% thức ăn tươi sống.

Cách cho ăn:

  • 2 tháng đầu nuôi: Cho ăn 3 lần trong ngày 
  • 2 tháng tiếp theo: Cho ăn 2 lần trong ngày (sáng 7 - 8 giờ, chiều 17 - 18 giờ)

Lượng thức ăn trong mỗi lần cho ăn sẽ bằng 7% trọng lượng của toàn bộ lươn nuôi trong bể.

Lươn hoạt động nhiều vào ban đêm nên bữa chính sẽ là bữa chiều tối

Thời tiết âm u lươn thường ăn ít, bà con nên giảm khoảng 20 - 30% thức ăn hàng ngày.

bà con nên cố định chỗ ăn để tập thói quen ăn cho đàn lươn giúp chúng ăn được hết thức ăn đã thả xuống, tránh gây lãng phí và làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước. Người chăn nuôi có thể rải thức ăn đã phối trộn trên sàn tre.

 

5. Kỹ thuật chăm sóc 

Thay nước cho lươn, đặc biệt là vào mùa hè. Có những hôm nắng nóng cao điểm, bà con phải thay nước 3 lần/ ngày. Nuôi trong bể xi măng có lợi thế là khá dễ thay nước. Cách tiến hành như sau: Đổ thêm vào bể khoảng 10cm nước, cho lươn ăn thức ăn trong 3 giờ sau đó tháo cạn nước, loại bỏ thức ăn thừa và chất cặn trong bể nuôi.

Còn khi thời tiết mát mẻ, 2 ngày tiến hành thay nước 1 lần. 

Tuyệt đối không được để vôi hay xà phòng rơi xuống khu vực bể nuôi sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đàn lươn.

 

Ngoài ra, bà con nên định kỳ kiểm tra nồng độ pH, NH3 trong nước sau mỗi lần thay nước. Nếu NH3 quá cao, một nửa thân trên của lươn sẽ thẳng đứng, đầu nhô lên mặt nước, nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời thì chúng sẽ bị chết.

Mỗi tháng tiến hành phân loại lươn to, lươn bé để thuận tiện trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời đảm bảo con to không cắn hoặc làm sứt xát con nhỏ.

Nói chung nuôi lươn không bùn khá dễ chăm sóc. 

Lươn thường có tập tính lựa chọn thức ăn rất cao, nên nếu muốn thay đổi khẩu phần, chế độ dinh dưỡng, bà con phải làm dần dần. 

6. Một số bệnh thường gặp và cách điều trị

Lươn thường ít bị bệnh. Nếu trong quá trình vận chuyển bị xây xát,  quá trình chăm sóc không tốt, nguồn nước bẩn, ô nhiễm thì ký sinh trùng sẽ phát sinh gây ra một số bệnh như sốt nóng, lở loét, nấm thủy mi.

  • Bệnh sốt nóng:

Nguyên nhân: mật độ nuôi dày, nhiệt độ nước quá cao mà không thay kịp thời. Đàn lươn sẽ nháo nhác, tiết nhiều dịch nhầy, đầu sưng phồng lên dẫn đến chết hoàn toàn.

Điều trị: Duy trì mật độ hợp lý, khi lươn lớn nên có biện pháp thay đổi mật độ nuôi. Thay nước thường xuyên. Lươn bị bệnh có thể dùng Anti Shock liều 1kg/ 1000m3 cho xuống nước. Hoặc dùng Sunphat đồng 0,07% với liều lượng 5ml/m3 nước.

  • Bệnh lở loét:

Nguyên nhân: Lươn bị xây xát do vận chuyển hoặc cắn nhau gây ra những vết lở loét, tạo điều kiện cho ký sinh trùng trú ngụ và gây bệnh lở loét. Phần đuôi của lươn bệnh có thể bị rụng đi, đầu ngoi lên khỏi mặt nước. Bệnh này hay xảy ra từ tháng 5 - 9.

Điều trị: Sát trùng bể nuôi bằng vôi trước mỗi mùa vụ nuôi. Trong mùa vụ, bà con có thể sử dụng  thuốc Streptomycin liều lượng 250.000 UI/m2 phun cho toàn bể. Trộn SulFamidine liều lượng 0,5g/ 50kg thức ăn cho lươn ăn mỗi ngày 1 lần, kéo dài từ 5 - 7 ngày. 

  • Bệnh nấm thủy mi:

Nguyên nhân: do ký sinh trùng gây ra, thời điểm từ mùa xuân - thu. Trên thân của chúng sẽ có những vết tròn, trắng.

Điều trị: dùng vôi 100 - 150g thả vào bể trước khi nuôi. Hoặc dùng  Bio Oxocol trộn với thức ăn liều lượng 5g/ kg cho đàn lươn ăn liên tục từ 3 - 5 ngày.

7. Thu hoạch 

Lươn đạt kích cỡ khoảng 150 - 220g/ con đã có thể xuất bán. Nuôi lươn không bùn rất dễ thu hoạch, có thể thu được toàn bộ hoặc chọn lọc những con có kích thước lớn đem xuất bán trước, con lươn sạch sẽ, không  bị bám bùn đất. Tuy nhiên khi thu cần phải thực hiện nhẹ nhàng tránh làm xây xát ảnh hưởng đến chất lượng thịt.

Bà con dùng vợt, thùng chứa hoặc sọt để thu lươn. Có thể để lươn trong thùng tôn hoặc trong bạt lót có nước sạch khi vận chuyển.

Nên thu lươn vào buổi sáng sớm mát mẻ hoặc chiều tối.

Áp dụng đúng kỹ thuật nuôi lươn không bùn giúp đàn lươn lớn nhanh, một năm bà con có thể nuôi được 2 -3 vụ, mang lại nguồn thu dồi dào, không chỉ nhân đội mà thậm chí còn nhân 4, nhân bốn nguồn vốn bỏ ra ban đầu. 

Chúc bà con thành công!

 

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

Kỹ thuật nuôi ếch thịt trong ao

   [mota]Chuẩn bị ao


                                                       Xem video hướng dẫn chi tiết tại đây.

Mức nước 0,20 – 1,0 m. Ao có bố trí hệ thống sàn ăn, bè nổi cho ếch lên ăn mồi, nghỉ ngơi. Có hệ thống kênh cấp thoát nước, hệ thống lưới che chắn, bảo vệ ếch.


* Giống và mùa vụ


- Mùa vụ thả từ tháng 4 đến tháng 9.


- Trước khi nuôi nên tắm ếch giống trong nước muối 3%.


- Chọn ếch giống 45 ngày tuổi, cỡ đồng đều (3 - 6 cm/con), khoẻ mạnh, màu sắc đậm, không nhiễm bệnh hay bị dị tật, quen ăn thức ăn chế biến.


- Mật độ nuôi 40 - 60 con/m2 hoặc 80 - 100 con/m2 (tuỳ vào trình độ nuôi).


Ảnh minh họa/Internet.

Ảnh minh họa/Internet.

* Thức ăn và cho ăn


- Chủ yếu là thức ăn công nghiệp hoặc chế biến sẵn (độ đạm > 30%). Khầu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch trong ao.


- Cho ăn: Tháng đầu cho ăn 3 - 4 lần/ngày, khi lớn cho ăn 2 lần/ngày (sáng và chiều).


Những vùng có sẵn tôm, cá, cua đồng, giun đất, trứng vịt loại thì có thể dùng thức ăn tự chế để hạ giá thành. Trộn những loại thức ăn thô trên với cám gạo, cho vào máy nghiền thức ăn, phơi khô trong bóng râm (không phơi trực tiếp dưới ánh sáng nắng mặt trời).


Nếu dùng thức ăn viên, rải trực tiếp xuống ao. Nếu dùng thúc ăn chế biến, để lên sàn ăn.


Nếu dùng thức ăn tươi sống, phải rửa sạch hoặc khử trùng trước khi cho ăn. Không thay đổi thức ăn hàng ngày đột ngột, vì ếch sẽ không ăn cho dù nó đang đói.


* Chăm sóc



- Thay nước: tháng đầu: 2 - 3 ngày thay nước 1 lần, mực nước luôn duy trì 20 - 30 cm. Từ tháng thứ 2 trở đi: thay nước hàng ngày, mực nước có thể giảm xuống còn 10 - 15 cm. Nên thay nước vào buổi sáng. Nếu dùng nước giếng khoan, nên trữ lại ít nhất 1 ngày mới sử dụng.


- Chăm sóc, quản lý ao: Thường xuyên bổ sung vitamin, thuốc bổ, men tiêu hoá vào khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho ếch.


Mỗi tuần cho ếch tắm bằng thuốc sát trùng (thuốc tím, lodine)/lần.


Định kỳ 2 tuần cân ếch để có cơ sở điều chỉnh chế độ cho ăn và chăm sóc. Đồng thời phân loại ếch theo trọng lượng để tách nuôi riêng, tránh trường hợp cắn hoặc ăn thịt lẫn nhau.


* Thu hoạch


Ếch đạt 200g/con sau 3 - 3,5 tháng nuôi. Có thể thu toàn bộ.


Theo khuyennongvn.gov[/mota]

Kỹ thuật nuôi lươn thương phẩm


Hình thức nuôi lươn hiệu quả và phổ biến hiện nay là nuôi trên bể không bùn bằng giống nhân tạo và sử dụng thức ăn viên. Hình thức nuôi này có ưu điểm: Cỡ giống đồng đều, chất lượng giống ổn định, sử dụng được thức ăn viên giúp cho tỷ lệ sống cao và thuận lợi trong quá trình nuôi; đặc biệt mô hình này ít tốn diện tích phù hợp cho hộ ít đất sản xuất, phù hợp cả nơi đô thị, ít tốn thời gian, dễ áp dụng kỹ thuật, cho thu nhập cao.

Bể nuôi là bể xi măng, bể lót bạt và có thể tận dụng chuồng heo cũ để nuôi. Lươn có thể dựng thân vào thành bể để ngoi lên bò ra ngoài, nên bể cần có đủ độ cao để tránh lươn bị thất thoát. Bể có hình chữ nhật chiều rộng 1,0 - 2m và chiều dài 2 - 5m, độ sâu tối thiểu từ 0,8 – 1,0m. Để tiết kiệm diện tích xây dựng và dễ quản lý, nên thiết kế khu nuôi thành nhiều bể liên tiếp. Thành và đáy bể cần làm bằng các vật liệu trơn láng. Mặt đáy cần bằng phẳng và hơi nghiêng về phía ống thoát nước. Toàn bộ hệ thống nuôi được che bởi mái che nhằm hạn chế ánh sáng chiếu trực tiếp vào bể làm nhiệt độ nước tăng cao ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lươn. Ống cấp nước: Nối thông với nguồn nước cấp, đặt bằng hoặc cao hơn mặt bể. Ống thoát nước đặt sát đáy bể. Ống xả tràn đặt cao hơn mực nước trong bể khoảng 10cm (để xả bỏ lớp nước mặt sau những trận mưa). Tất cả các ống nói trên đều phải được chắn lưới để tránh lươn chui ra ngoài.

* Cách làm nơi trú ẩn cho lươn: Có thể dùng vĩ tre hay dây ni lông

Vĩ tre: Tre (hay tầm vông) cắt thành từng đoạn gần bằng chiều dài bể (để nguyên hoặc chẻ ra tùy cỡ cây) và bào gọt thật láng. Sau đó đóng đinh hoặc dùng dây buộc chặt thành những tấm vạt, cây cách cây 4 - 6 cm. Diện tích các tấm vạt bằng 60 - 70% diện tích bể. Cần chú ý các vị trí đóng đinh bị nhô ra có thể làm lươn bị sây sát. Vĩ tre cần ngâm nước trước khi sử dụng. Mỗi bể đặt 2 - 3 vạt, tấm trên cùng thấp hơn mặt nước 1cm. Để nuôi loại lươn từ 50con/kg trở lên: Các thanh tre trong vĩ có khoảng cách 3cm, chiều cao 3cm, dùng dây bện đan ngang, có thể xếp 4 vĩ chồng lên nhau. Để nuôi loại lươn từ 50con/kg trở xuống: Các thanh tre trong vĩ có khoảng cách từ 1,5 - 2cm, chiều cao từ 1,5 - 2cm, có thể làm 3 vĩ chồng lên nhau (có thể thay tre bằng ống nhựa).

Dây ni lông: Cần có vài chục đến vài trăm đoạn dây ni lông, được chia ra thành nhiều bó. Bố trí cây đòn gác ngang trên thành bể. Một đầu bó ni lông cột vào cây đòn, một đầu thả tự do vào bể. Những búi sợi ni lông trong bể sẽ đóng vai trò như tổ của lươn. Để tiết kiệm nên dùng loại dây ni lông tái sinh (bản rộng 0,6 - 1cm và dài từ 1,2 - 1,5 m). 

Ngoài bể nuôi lươn thương phẩm nên có ba bể: Bể lắng, bể lọc và bể xử lý chất thải. Sàng ăn là khung hình chữ nhật làm bằng tre hoặc ống nước, rải thức ăn vào bên trong khung để dễ quản lý thức ăn.

* Chọn và thả giống:

Nên chọn mua con giống nhân tạo ở các cơ sở sản xuất có uy tín, con giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, có màu vàng đặc trưng của loài, bơi nhanh nhẹn, da không bị trầy xước, mất nhớt. Cỡ giống khoảng 300 - 500 con/kg. Đặc biệt lươn giống nhân tạo này đã được thuần bằng thức ăn viên.

Do nguồn lươn giống bán nhân tạo có kích cỡ nhỏ nên cần bố trí vào bể nuôi dưỡng đến khi lươn đạt kích cỡ lươn giống (40 - 60 con/kg). Mật độ nuôi dưỡng (giai đoạn 1): 200 – 300 con/m2. Mật độ nuôi thương phẩm (giai đoạn 2): 150 - 200 con/m2.

Trước khi thả lươn giống vào bể nuôi, tắm qua dung dịch nước muối nồng độ 2 - 3% khoảng 1 - 2 phút. Cần kiểm tra kỹ, nếu phát hiện những con bị bệnh hay yếu, lờ đờ, xây sát thì phải loại ra. Ngày thứ nhất sau khi bố trí lươn vào bể nuôi dưỡng không nên cho ăn để lươn ổn định. Từ ngày thứ 2 trở đi bắt đầu cho lươn ăn trùn chỉ hoặc trùn quế để tăng cường sức đề kháng và khả năng chống chịu với bệnh. Khẩu phần ăn bằng 1 - 2% trọng lượng đàn. Thức ăn rải trong sàng ăn để dễ quản lý thức ăn. Cần quan sát và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Nếu không có nguồn trùn thì cho lươn ăn thức ăn công nghiệp với khẩu phần ăn chiếm khoảng 1 - 3% trọng lượng đàn, hàm lượng đạm 42 - 44%, mỗi ngày cho lươn ăn 2 lần, lần 1 lúc 6 giờ sáng, lần 2 lúc 5 giờ chiều.

Trong giai đoạn nuôi dưỡng này nên thay nước toàn bộ hàng ngày và vệ sinh bể nuôi để kích thích lươn bắt mồi. Sau 2 - 3 tháng nuôi dưỡng lươn đạt cỡ giống lớn thì tiến hành phân cỡ và san bể nuôi để lươn trong mỗi bể có kích cỡ đồng đều. Do lươn có tập tính ăn lẫn nhau, nên khoảng 1 tháng nuôi hoặc thấy lươn có phân đàn cần tiến hành phân cỡ ra nuôi riêng để hạn chế lươn hao hụt. Trước khi phân cỡ cho lươn nhịn ăn 1 ngày, dùng sàng trơn láng để phân loại cỡ lươn hoặc dùng vợt để bắt lươn (không dùng tay).

* Chăm sóc, quản lý:

Duy trì mức nước bể nuôi trong suốt quá trình nuôi đạt 20 - 50cm (vừa ngập các giá thể), không cần cho nhiều. Thay nước: Thay 100% lượng nước trong bể trước hoặc sau khi cho ăn 1 - 2 giờ, 1 - 2 lần/ngày. Nếu nuôi mật độ dầy, nên thay nước mỗi ngày 2 lần; còn ở mật độ thưa thì 1 ngày thay nước 1 lần. Nhiệt độ nước mới và nước cũ không chênh lệch quá 3°C. Khi thay nước phải kết hợp xịt rửa vệ sinh và quan sát thấy lươn có dấu hiệu bệnh nên bắt và tách riêng lươn bệnh ra thau hoặc thùng để điều trị tránh bị lây lan mầm bệnh. Sau đó bơm nước mới vào và duy trì mực nước cố định. Lươn nuôi với mật độ dày, điều kiện môi trường rất dễ bị ô nhiễm thì lươn cũng dễ mắc một số bệnh. Khi đã mắc bệnh thì khả năng lây lan là rất nhanh. Do đó, việc giữ vệ sinh cho khu vực nuôi, đặc biệt là nguồn nước phải hết sức chú ý.

Định kỳ bổ sung thêm men tiêu hóa, Vitamin C, sổ giun sán và trộn tỏi vào thức ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho lươn. Đặc tính của lươn là ăn vào ban đêm, do đó, ban đêm cho lươn ăn lượng thức ăn khoảng 80%, còn 20% cho ăn vào ban ngày.

Khi rãi thức ăn nếu thấy hiện tượng lươn bắt mồi kém, âm thanh bắt mồi của lươn rời rạc. Lươn bò rải rác trong bể mà không nằm trú ẩn trong giá thể (vĩ tre, sợi ni lông). Các đặc điểm này đồng thời xuất hiện là dấu hiệu cho biết lươn nuôi có triệu chứng bệnh. Khi phát hiện lươn bệnh thì phải ngừng cho ăn, thay nước mới, sử dụng nước muối có hàm lượng 3 - 5% tắm cho lươn và theo dõi kỹ đàn lươn để có biện pháp xử lý kịp thời.

* Thu hoạch: Sau thời gian nuôi, khi lươn đạt kích cỡ thương phẩm thì tiến hành thu hoạch, trước khi thu hoạch nên cho lươn nhịn ăn 1 ngày. Thông thường, cỡ lươn giống thả từ 100 – 300 con/kg, thời gian nuôi từ 8 - 10 tháng lươn có thể đạt được 150 - 250g/con. Cỡ lươn thả 300 - 500 con/kg thời gian nuôi từ 10 - 12 tháng đạt cỡ 150 - 250g/con. Năng suất: Tùy theo mật độ nuôi lươn, năng suất có thể đạt từ 15 - 20kg/m2/vụ (mật độ 150 con/m2), năng suất có thể tăng gấp đôi nếu nuôi mật độ cao. Sau khi thu hoạch cần vệ sinh bể sạch sẽ để chuẩn bị nuôi vụ tiếp theo.


                                                                                                                       Nguyễn Thị Phương Dung

<gia>340 tr</gia><dientich>500 m<sup>2</sup></dientich><vitri>Mặt tiền</vitri><diachi>Lý Tự Trọng, Bến Nghé, Quận 1</diachi>


Yêu cầu kỹ thuật nuôi trùn quế làm giàu hiệu quả

 Phân trùn quế hay còn gọi là trùn quế, là hình thức chuyển đổi phân chuồng và phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ giàu dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên mô hình nuôi giun quế vẫn chưa được nhân rộng và khai thác đúng tiềm năng vốn có bởi kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế. Do đó, để nghề nuôi trùn quế trở thành mô hình làm giàu của bà con nông dân, hãy cùng Đặng Gia Trang học ngay “Kỹ thuật nuôi trùn quế” qua bài viết dưới đây nhé.


                                                   Xem video hướng dẫn tại đây 

1/ ĐIỀU KIỆN NUÔI TRÙN QUẾ TRONG HỘ GIA ĐÌNH 

– Có nguồn phân động vật tại chỗ như phân trâu bò, phân dê thỏ, phân gà, phân lợn; Các nguồn rác thải hữu cơ như: rơm rạ, rau quả, bã trái cây đã ép lấy nước, xơ mít, vỏ dứa, xoài, thân cây chuối…Đây là nguồn rất dễ kiếm đối với những hộ nông dân, đặc biệt là những hộ kinh tế VAC.


– Phải có một chuồng nuôi thích hợp. Tất cả những dụng cụ đựng mà đảm bảo thoát nước, không úng ngập và chứa đựng được thì đều có thể làm chuồng nuôi giun. Ví dụ như thùng phuy, can nhựa, khay, thùng, chậu, chuồng trại cũ bỏ không, lều lán…

– Tuy nhiên trên thực tế việc nuôi giun tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Để nuôi trùn quế thành công và đạt hiệu quả kinh tế cao, chúng ta cần tuân thủ những yêu cầu kỹ thuật sau:


1.1 Về người nuôi

– Nắm được một số đặc tính sinh lý, sinh thái cơ bản của con giun.

– Có kiến thức tối thiểu về qui trình công nghệ nuôi giun.

– Thực hành đúng các yêu cầu kĩ thuật và qui trình công nghệ nuôi giun.


1.2 Về chuồng trại nuôi: 

Chuồng trại nuôi phải đặt nơi thoáng mát, không bị ngập úng và không nên bị ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, có nguồn nước tưới thường xuyên, trung tính và sạch; cần thoát nhiệt, thoát nước tốt. Bảo đảm các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm. Nên có biện pháp ngăn ngừa các thiên địch (kiến, cóc, nhái..) Hố hoặc bể nuôi giun quế phải có mái che tránh mưa nắng. Ban đêm nên có đèn sáng, nhất là vào lúc mưa gió để tránh giun bò đi nơi khác.


1.3 Về chất nền: 

Là yếu tố quan trọng cho trùn quế trong thời gian đầu sinh sống, là nơi trú ẩn khi giun tiếp xúc với môi trường mới và phải đạt các yếu tố: tơi xốp, sạch, giàu dinh dưỡng…Chất nền có cơ cấu xốp, kết cấu tương đối thô, có khả năng giữ ẩm tốt, không gây phản ứng nhiệt, pH không nằm ngoài phổ chịu đựng của giun, có thể là môi trường sống tạm của giun khi gặp điều kiện bất lợi.


1.4 Về nhiệt độ: 

Nhiệt độ thích hợp nhất cho giun phát triển là từ 20oC – 30oC. Đối với bà con ở một số khu vực phía Bắc cần chú ý: Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp, lúc này chúng ta cần che chắn kỹ, thắp đèn điện vào ban đêm sao cho luôn giữ nhiệt độ ở mức thích hợp, tránh trường hợp giun bị ngủ đông hoặc chết cóng.


1.5 Về độ ẩm:

Phải thường xuyên tưới nước cho giun (vào mùa hè và mùa khô ít nhất là 2 lần / ngày). Có thể nhận biết độ ẩm thích hợp bằng cách: Lấy tay nắm phần sinh khối trong chuồng, sau đó thả ra; nếu thấy phần sinh khối còn giữ nguyên và tay ta chỉ ướt là đủ, nhưng nếu thấy nước chảy ra hoặc phần sinh khối bị vỡ và rơi xuống như vậy là quá ướt hoặc quá khô. Nên chú ý tưới giữ ẩm ngay từ khi mới thả giống vì giun đã bị sốc khi di chuyển. Hàng ngày kiểm tra độ ẩm và tưới bổ sung, tốt nhất là tưới nhiều lần trong ngày khi trời nóng, lượng nước cho mỗi lần tưới ít. Nước tưới nên có pH trung tính, không nhiễm mặn hoặc phèn. Nếu sử dụng chất nền có kết cấu hạt xốp và to thì độ ẩm có thể duy trì ở mức cao và ngược lại.


1.6 Về ánh sáng:

Giun rất sợ ánh nắng nên ta cần phải che chắn chuồng thật kỹ vào ban ngày để tránh tia tử ngoại lọt vào chuồng. Tốt nhất là có tấm phủ trên mặt luống nuôi. Tuy nhiên cần phải giữ cho chuồng thoáng mát.


1.7 Về không khí: 

Khí Co2, H2S, SO3, NH4 là kẻ thù của giun nên thức ăn của giun phải sạch và không có các thành phần hóa học gây bất lợi cho giun.


1.8 Về thức ăn:

Mỗi ngày giun tiêu thụ một lượng thức ăn tương đương với trọng lượng cơ thể chúng, nên chúng ta phải chắc rằng đủ lượng thức ăn cần thiết để nuôi giun. Thức ăn giun gồm: Phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm rạ, rác hữu cơ.. Trong đó phân bò tươi và phân trâu tươi là món khoái khẩu nhất của giun; còn lại phân gà, phân lợn, phân vịt, cần phải ủ cho hoai trước khi cho ăn. Thức ăn là chất thải hữu cơ nên ở dạng đang phân hủy, không nên có hàm lượng muối và amoniac quá cao; chủng loại tương đối đa dạng nhưng thích hợp nhất là những chất liệu có tỷ lệ C / N vào khoảng 10 : 1 như phân gia súc, hấp dẫn giun hơn là các loại phân khô hoặc đã qua giai đoạn ủ.

Có thể chế biến thức ăn giun gồm rơm rạ, bã mía, mùn cưa… 50 %; lá xanh, rau các loại, vỏ chuối… 20 % và phân gia súc, gia cầm 30 %. Trong đó phân trâu bò là tốt nhất. Cứ 2 kg giun giống (khoảng 5000 con) tiêu thụ mỗi ngày 1-2 kg phân ủ, cứ 1000 con hàng tháng ăn hết 100 kg phân ủ. Trộn đều các loại nguyên liệu theo tỷ lệ 70 % nước, 30 % phân rác… (cất nguyên liệu rơm rạ…) đem ủ như ủ phân đống ngoài trát bùn chặt kín, nhiệt độ tăng cao, cho đến 3 – 4 tuần lễ. Khi nhiệt độ hạ xuống bằng nhiệt độ môi trường thì cho giun ăn.


2/ CÁC MÔ HÌNH NUÔI TRÙN QUẾ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều mô hình nuôi trùn quế: từ đơn giản như nuôi trong khay, chậu trên một diện tích nhỏ, đến nuôi trên đồng ruộng (có hoặc không có mái che), hay nuôi trong những nhà nuôi kiên cố… nhưng nhìn chung, các mô hình này đều phải đảm bảo được những yêu cầu kỹ thuật phù hợp với đặc điểm sinh lý của con giun quế.


2.1 Nuôi trong khay chậu:

Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được. Mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô… Các thùng gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m2 với chiều cao khoảng 0,3 m). Các dụng cụ này nên được đặt trên những cái khung nhiều tầng để dễ chăm sóc và tận dụng được không gian. Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt ở nơi có ánh sáng hạn chế càng tốt. Chúng phải được đục lỗ thoát nước, những lỗ này cần được chặn lại bằng bông gòn, lưới… để không bị thất thoát con giống. Mô hình nuôi này có ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong gia đình hoặc tận dụng thời gian rảnh rỗi. Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễ quan sát và gọn nhẹ. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơn các mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc cho trùn quế phải được chú ý cẩn thận hơn.


2.2 Nuôi trên đồng ruộng có mái che:

Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp cho những vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải. Các luống nuôi có thể là ô đào sâu trong đất hoặc làm bằng các vật liệu nhẹ như bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2 m, độ sâu (hoặc cao) khoảng 30 – 40 cm, bảo đảm thoát được nước và thông thoáng. Mái che nên làm ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau. Độ dày chất nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần. Luống nuôi cần được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của trùn quế và chống các thiên địch.


Trại nuôi giun quế


Trại nuôi giun quế


2.3 Nuôi trên đồng ruộng không có mái che:

Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công nghệ nuôi giun Quế như Mỹ, Úc.. và có thể thực hiện ở quy mô lớn. Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2 m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi. Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ sung hàng tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng. Tuy nhiên, phương pháp nuôi này bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến giun Quế và cần một diện tích tương đối lớn.


2.4 Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp:

Là dạng Cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trong thau chậu. Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng. Việc chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy mô. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi. Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang thiết bị cao. Hiện nay, quy mô nuôi công nghiệp với những trang thiết bị hiện đại được áp dụng khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada.


3/ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ NUÔI TRÙN QUẾ

3.1 Chuẩn bị chuồng nuôi:

Tùy theo khả năng và quy mô kinh doanh mà chúng ta làm chuồng trại. Có các phương thức như: Nuôi giun trong hố đất, nuôi trong thùng hộp và nuôi trong bể xây.

a) Nuôi giun trong hố, luống đất:

Chọn nơi cao ráo, đào hố nuôi sâu 0,4 – 0,5 m, rộng 1 – 1,2 m, dài 2, 3, 4 m tùy yêu cầu. Xung quanh hố có rãnh thoát nước. Cũng có thể nuôi giun theo kiểu đắp luống trên mặt đất. Luống nuôi cao 0,3 – 0,4 m, rộng 1 m, dài từ 2 – 4 m. Xung quanh luống quây ván, thân cây chuối, bao bì đựng thức ăn, xếp gạch, xây bằng gạch để ngăn phân nuôi không tràn ra ngoài. Trong điều kiện chưa có vốn, chúng ta có thể quây mê bồ là có thể nuôi được. Trên luống có mái che, mái cách mặt luống khoảng 1 m. Luống nuôi giun rất thích hợp ở nông thôn vì có mặt bằng.


b) Nuôi trong thùng, hộp:

Nếu nuôi giun quế vào mục đích lấy giun nhằm tăng thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm, thủy hải sản hoặc xử lý rác thải nhà bếp, thì việc làm chuồng cũng hết sức đơn giản. Có thể tận dụng những vật có sẵn để nuôi như: chum, chậu, thùng phuy, can nhựa, xô nhựa, những bể nước không còn sử dụng v.v… Cũng có thể đóng thùng nuôi giun gồm nhiều tầng chồng lên nhau. Tùy theo qui mô lớn nhỏ và tùy theo điều kiện tận dụng nguyên vật liệu của mỗi nơi, mà thiết kế thùng nuôi có kích thước phù hợp. Thùng nuôi giun phải đảm bảo có thể chứa được thức ăn cho giun và không làm thay đổi nhiệt độ của thức ăn. Nước trong thức ăn khi lắng xuống phải có chỗ thoát, để phần thức ăn bên dưới không quá ẩm. Đóng thùng nuôi giun phải đảm bảo kín, không cho giun bò ra ngoài, bỏ trốn khỏi nơi nuôi. Thông thường các thùng làm bằng gỗ hoặc nhựa.

Trong điều kiện chật hẹp như ở đô thị hoặc nhà cao tầng, người ta sử dụng hộp nuôi giun. Hộp nuôi giun quế có kích thước 50 x 35 x 20 cm. Đáy hộp có khoan nhiều lỗ thoát nước đường kính khoảng 5 mm và được lót dưới chất dẻo ngăn không cho giun bò ra ngoài. Bên trong hộp phủ giấy màu đen hoặc lá chuối để tạo ra môi trường tối. Bốn góc hộp có chân cao khoảng 5 cm, để khi chồng lên nhau vẫn có kẽ hở cho thông không khí. Dưới mỗi chồng hộp đặt một cái chậu để hứng nước từ các hộp trên chảy xuống. Nếu quy mô lớn hơn ta có thể làm chuồng bằng tấm bạt nilon. Nuôi trùn quế trong gia đình với qui mô nhỏ, có thể làm những thùng nuôi vuông 70 x 70 cm và cao 45 cm. Với kích thước này có thể nuôi được 10.000 con giun. Các thùng có thể xếp chồng lên nhau và đặt trong nhà có mái che mưa che nắng.

c) Nuôi trong chuồng có ngăn bể xây:

Nếu nuôi trùn quế qui mô lớn nhằm kinh doanh thì nên xây chuồng. Có thể làm lán mái riêng để che mưa, che nắng hoặc tận dụng gian nhà sẵn có để làm chuồng. Tùy theo diện tích đất ta có thể xây chuồng dài rộng tùy ý. Thông thường chuồng xây ngang 1 m 50, cao 0,50 m, dài 2 m trở lên. Có thể xây các ô liền nhau thành từng dãy dài. Ở hai mặt đối diện mỗi ô nuôi chứa mỗi bên một cặp lỗ nhỏ để thoát nước. Chuồng nuôi giun được quây bằng gạch hoặc bằng gỗ ván. Tuỳ theo lượng giun giống ban đầu mà quây ô chuồng nuôi giun rộng, hẹp khác nhau với mức 3 – 4 kg giun giống / m2. Chiều cao của ô chuồng ban đầu là 30 – 40 cm, sau đó nâng cao dần theo lượng phân cho vào nhiều lên. Chuồng được che phủ bởi lá dừa, lá cọ, rơm, rạ là tốt nhất, vì tạo được bóng mát và giữ được độ ẩm cao. Tuy nhiên chuồng trại phải bảo đảm sự thông thoáng, không khí phải ra vào lưu thông.


3.2 Chuẩn bị dụng cụ:

– Cây chĩa 6 răng: Đây là dụng cụ dùng để xới, thu hoạch và chăm sóc giun. Không dùng các dụng cụ khác có thể làm giun bị thương.

– Tấm che phủ: Thường làm bằng bao tải đay hoặc chiếu cói là tốt nhất. Đặc điểm của giun là ăn và cặp đôi sinh sản thường ở trên bề mặt luống giun, nhưng phải ẩm và tối. Do đó người ta dùng tấm che phủ, vừa tạo bóng tối để giun liên tục ở trên bề mặt luống, ăn thức ăn và sinh sản, tăng năng suất nuôi giun; Mặt khác cũng dùng để giữ độ ẩm cho luống giun.

– Thùng tưới: Sử dụng các loại thùng có vòi sen như thùng tưới rau. Nếu không có thùng tưới thì có thể vẫy nước qua sàn rổ.

– Gáo múc thức ăn: Có thể dùng ca múc nước bằng nhựa có cán (loại 1 – 2 lít) hoặc mũ bảo hộ lao động bằng nhựa, có buộc thêm cán bằng tre trúc, dài khoảng 1 – 1,5 m.


3.3 Chuẩn bị chất nền:

Chất nền là nơi cư trú ban đầu của trùn quế. Khi bắt đầu nuôi hoặc sau mỗi lần thu hoạch giun và phân giun, chuẩn bị cho đợt nuôi tiếp phải rải chất nền vào luống nuôi. Vì vậy thao tác đầu tiên là phải chuẩn bị chất nền. Chất nền tốt nhất là phân bò cũ. Có 3 phương pháp chế biến chất nền là phương pháp ủ nóng, phương pháp ủ nguội và ủ hỗn hợp.

a) Phương pháp ủ nóng:

Để chế biến chất nền cần có phân trâu bò, phân lợn và chất độn như cỏ, rơm rạ, bèo, dây lang, thân cây lạc… hoặc lá cây khô (trừ lá xoan, lá lim, lá sắn có độc tố cao). Trùn quế rất sợ nước tiểu gia súc. Nếu phân có lẫn nước tiểu phải phun rửa để loại bỏ nước tiểu. Chất độn băm nhỏ. Chọn mặt nền cứng rải một lớp phân dày 10 – 15 cm, tiếp theo rải lên một lớp chất độn dày 10 cm có trộn vôi bột. Tiếp tục rải phân và chất độn theo thứ tự trên cho đến khi đống chất độn cao 1 – 1,5 m. Ở giữa đống ủ cắm một đoạn tre thông khí. Khi đánh đống xong (tỉ lệ: 7 phần phân trâu, bò để hoại ủ với 3 phần chất độn chặt ngắn), phủ lên đống phân một lớp che mưa nắng bằng vật liệu sẵn có như lá chuối, tấm tranh lợp. Đống ủ nên có kích thước sau: dài 1 m, rộng 1 m, cao 1 – 1,3 m. Cứ 5 – 7 ngày tưới nước và đảo đống chất nền 1 lần để đảm bảo chất nền luôn ẩm và có đủ không khí. Sau 3 – 4 tuần ủ, chất nền đã có thể sử dụng.

b) Phương pháp ủ nguội:

Phân gia súc và chất độn xếp lớp và đánh đống như đã mô tả trong phương pháp ủ nóng (không dùng vôi bột). Sau khi đánh đống xong phủ một lớp rơm, rạ mỏng và tưới nước cho ẩm. Tiếp theo lấy bùn trát kín đống ủ. Sau 3 tháng có thể đem sử dụng.

c) Phương pháp ủ hỗn hợp:

Phân chất độn xếp lớp và đánh đống như phương pháp ủ nóng. Sau 4 – 6 ngày nhiệt độ trong đống phân lên cao 70 độ C. Tưới nước cho ẩm rồi lấy bùn trát kín. Sau 2 tháng có thể đem sử dụng.


3.4 Rải chất nền đệm:

Sau khi đã chuẩn bị xong chất nền, rải chất nền vào luống nuôi hoặc ô nuôi một lớp dày từ 10 – 20 cm, tưới ẩm, xới chất nền rồi san bằng. Chất nền rải trước lúc thả giun 2 – 3 ngày. Nếu thả giống bằng giun sinh khối thì có thể không cần rải chất nền.


3.5 Ủ phân làm thức ăn cho giun:

Ngoài phân tươi của gia súc ăn cỏ là có thể cho giun ăn trực tiếp, ta có thể ngâm phân tươi đó với phân chuồng đã ủ hoại làm thức ăn cho giun bằng các hỗn hợp sau:

– 50 kg cỏ khô hay rơm rạ, thân đậu, bã mía, mạt cưa, giấy vụn, …

– 30 kg phân gia súc (trâu, bò, heo, … )

– 20 kg thực vật tươi (rau, cỏ, vỏ chuối, …)

Tổng cộng được 100 kg vật chất thô, ở giữa hố ủ cắm một thanh tre hay khúc gỗ dài từ đáy hố nhô lên khỏi mặt hố. Mỗi ngày tưới nước vừa, khi tưới lắc thanh tre, nhằm mục đích cho nước ngấm đều hố ủ. Sau thời gian khoảng 03 tháng thì phân hoai. Riêng rơm đã mủn sẵn thì thời gian ủ sẽ ngắn hơn.


3.6 Chuẩn bị giun giống:

Ở Việt Nam, giống và chủng loại giun khá phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ sở nghiên cứu và sản xuất giống giun phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, cho năng suất cao còn rất hạn chế. Nên liên hệ với các trại chăn nuôi giun chuyên nghiệp để có được nguồn giống khoẻ, chất lượng cao. Khi mua giống, tốt nhất là mua ở dạng sinh khối (có lẫn cả giun bố mẹ, giun con, trứng kén giun chưa nở và cơ chất mà giun đang sống quen), để giun không bị “sốc” trong môi trường mới lạ và sinh sản nhanh.


Giun đất có nhiều loại, hiện có ba giống giun được nuôi phổ biến nhất là: trùn quế, giun Nhật Bản và giun Đại Bình 3. Ba giống giun kể trên có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, thích hợp với việc làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản, cho hiệu quả kinh tế cao. Chúng ta thường nuôi trùn quế, vì nó sinh sản rất nhanh, dễ nuôi, cho năng suất cao và thích hợp với những vùng nhiệt đới. Có thể nói về việc tăng số lượng, giun là loại động vật sinh sản nhanh nhất.


3.7 Thả giun giống:

Thả giống giun thường vào buổi sáng. Khi chuẩn bị ô chuồng xong thì thả giun giống bằng cách rải sinh khối vào theo một đường thẳng giữa ô luống đó hoặc rải giun giống thành từng đám giữa mặt luống. Khoảng 5 – 7 phút sau, giun sẽ chui hết xuống lớp sâu. Quan sát mặt luống, loại bỏ những con giun ngọ nguậy tại chỗ, không có khả năng di chuyển xuống lớp đất sâu. Đó là những mẩu giun bị thương trong quá trình gom giống, chuyên chở giống. Sau khi nhặt bỏ hết giun bị thương, dùng doa tưới cây, tưới ẩm nhẹ lên luống nuôi là xong. Hàng ngày phải tưới ẩm mặt luống. Nếu trời nóng quá 34 – 35 0 C nên tưới nhiều lần để giảm nhiệt độ.


Mật độ thả quyết định năng suất thu hoạch. Mật độ thích hợp khoảng 9 – 12 kg sinh khối / m2, tương đương 3 – 4 kg giun tinh / m2 (giun Quăn khoảng 5000 con / m2, trùn quế khoảng 10.000 con / m2), mới đảm bảo được sau 30 ngày cho 1 lần thu hoạch, với năng suất 10 – 15 kg / m2, tương đương với 100 – 150 tấn giun / ha. Nếu ta có đầy đủ nguồn thức ăn, có thể rút ngắn chu kỳ thu hoạch là 20 ngày.


3.8 Che phủ luống giun:

Giun thường có tập tính sống trong môi trường tối. Hễ gặp ánh sáng là giun rút sâu xuống dưới mặt luống. Che phủ mặt luống là biện pháp tạo bóng tối cho giun lên mặt luống ăn thức ăn và giao phối sinh sản cả ngày lẫn đêm. Tấm che phủ còn có tác dụng giữ độ ẩm luống nuôi. Sau khi thả giun giống, lấy bao tải cũ hoặc chiếu cói rách, bìa các tông, lá chuối, lá cọ …đậy lên bề mặt ô chuồng giun để tạo bóng tối cho giun nhanh chóng quen nơi ở mới, rồi lấy ô roa tưới nước lên trên bề mặt, sao cho chất nền đệm ở dưới được ướt đẫm đều.


3.9 Tưới ẩm luống nuôi:

Mùa hè tưới 2 – 3 lần ngày, mùa đông tưới 1 – 2 lần / ngày. Ngày khô nóng tưới nhiều, ngày mưa rét tưới ít hoặc không cần tưới. Độ ẩm thích hợp luống nuôi là 70 %. Muốn kiểm tra độ ẩm thích hợp, lấy một nắm thức ăn hay chất nền bóp nhẹ, nếu ứa nước ở kẽ ngón tay là vừa. Nếu nước nhỏ giọt hoặc chảy thành dòng là quá ẩm. Khi quá ẩm điều chỉnh bằng cách giảm lần tưới hoặc giảm lượng nước tưới. Nếu bóp chặt mà không có nước là bị khô, cần tưới nước ngay.


3.10 Cho giun ăn và chăm sóc giun:

Sau khi thả giun giống được 1 – 2 ngày thì nên cho giun ăn. Lượng thức ăn mỗi lần khoảng 5 cm trên mặt luống. Sau đó sẽ tiếp tục cho ăn khi thấy trên bề mặt luống đã xốp và không còn thức ăn cũ. Chú ý không nên cho giun ăn khi lượng thức ăn cũ còn quá nhiều, vì lượng thức ăn bị tồn đọng phía dưới luống làm cho giun chỉ lo tập trung ăn và sống phía dưới luống mà không sống trên bề mặt. Điều này làm cho giun giảm khả năng sinh sản, năng suất nuôi giun sẽ bị giảm.

Các loại thức ăn của giun là phân tươi như phân trâu, bò, lợn, dê, thỏ, ngựa, hoặc thức ăn là rác thải hữu cơ đã hoai mục, được ủ theo các phương pháp nêu trên – Đều trộn lẫn và được ngâm vào bể có tưới nước sạch trong 1 – 2 ngày, thành dạng lỏng sền sệt, rồi mới múc vào cho giun ăn là tốt nhất. Cần lưu ý giun không chịu nước tiểu, vì vậy nếu phân có lẫn nước tiểu phải phun rửa sạch nước tiểu trước khi cho ăn. Phân trâu bò, phân lợn vón cục cần bóp vụn trước khi cho ăn.


Khi cho ăn, giở tấm phủ và múc thức ăn cho giun. Thức ăn rải trên mặt luống thành vệt dài hoặc từng đám mỏng cách đều nhau. Lượng thức ăn tùy thuộc vào sức tiêu thụ của từng luống cụ thể và tùy mùa. Vào mùa hè, cứ 2 – 3 ngày cho giun ăn 1 lần. Lượng thức ăn bón trên bề mặt luống dày từ 2- 3 cm. Đến mùa đông, lượng thức ăn bón nhiều hơn, dày khoảng 5 cm và bón phủ đầy luống giun. Thời gian cho ăn cũng thưa hơn mùa hè (3 – 4 ngày cho ăn 1 lần). Thức ăn phải bón thành từng ụ, hoặc theo từng dãy dài để khi nhiệt độ trong luống tăng cao hoặc trong thức ăn có chất gây sốc thì giun có khoảng trống chui lên thở. Sau khi bón xong, đậy tấm phủ lại và tưới ẩm.


Nuôi trùn quế hầu như không bị dịch bệnh, nhưng vào mùa hè có thể gặp một số bệnh sau:


– Bệnh no hơi: Do giun ăn những loại thức ăn quá giàu “chất đạm” như phân bò sữa, lợn… làm cho phân có mùi chua. Sau khi cho ăn, giun có hiện tượng nổi lên trên mặt luống và trườn dài, sau đó chuyển sang màu tím bầm và chết. Cách tốt nhất khi phát hiện trường hợp này nên hót hết phần phân lỡ cho ăn ra và tưới nước lên luống.


– Bệnh trúng khí độc: Do đáy chất nền đã bị thối rữa, trong thời gian dài chất nền thiếu O2 làm cho khí CO2 chiếm lĩnh hết khe hở của chất nền, làm giun chui lên trên lớp mặt và bò đi. Cách khắc phục: Dùng cuốc chĩa xới toàn bộ mặt luống và tưới nước.


3.11 Nhân luống:

Thời gian đầu luống còn ít kén và giun chưa thích nghi được môi trường mới, nên sau 2 tháng đầu thì số giống chúng ta mới được nhân đôi, những lần sau chỉ 1 tháng. Lúc này chúng ta có thể tách giun để nhân luống hoặc cho gia súc, gia cầm ăn. Trước khi nhân luống 2 ngày, ta cho giun ăn. Khi đó giun tập trung trên bề mặt luống, bốc lấy phần sinh khối phía trên của luống, thành những rãnh cách đều khoảng 20 cm rồi rải vào luống mới (cũng thành từng rãnh 20 cm) và tiếp tục cho ăn vào những chỗ rãnh trống, cả trên luống cũ và mới, cho đến khi đầy luống.

3.12 Bảo vệ luống giun:


Hàng ngày theo dõi luống giun, nếu thấy kiến phải tiêu diệt ngay. Diệt kiến có thể dùng cách đơn giản là đốt những vệt kiến bò vào luống giun, nhớ khi đốt đậy tấm phủ giun lại, hoặc cho nước ngập hố giun và kiến nổi lên mặt nước, dùng rọi đốt kiến trên mặt nước, sau đó tháo nước ra. Ngoài ra có thể dùng thuốc diệt kiến quét trên vách chuồng.

Một điều cần lưu ý là luống giun phải được che chắn hoặc bao lưới xung quanh để tránh gà, cóc, ếch nhái, rắn mối hoặc chuột ăn giun. Ngoài ra, khi nuôi trùn quế phải thật chú ý với các loại thuốc trừ sâu, hoá chất như xà phòng, nước rửa chén, muối ăn, nước giải, tro bếp, đất bột, … rất độc hại đối với giun, giun sẽ lập tức chết khi tiếp xúc.

Giun cũng có thể bò đi khỏi thùng, hộp, chuồng nuôi hoặc bị chết khi gặp những điều kiện bất lợi của môi trường sống như: Nhiệt độ, độ ẩm, độ pH quá cao hoặc quá thấp (do không tưới ẩm đúng kĩ thuật hoặc nước tưới không đảm bảo), thùng đậy nắp hoặc phủ nilon quá kín, trời quá nắng, bị nước mưa tạt vào, tiếng ồn và tiếng động xung quanh quá lớn v.v…


                                                                     Xem video hướng dẫn tại đây 

                                                                                                                Nguồn: www.agritrade.com.vn