Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

Kỹ thuật nuôi ếch thịt trong ao

   [mota]Chuẩn bị ao


                                                       Xem video hướng dẫn chi tiết tại đây.

Mức nước 0,20 – 1,0 m. Ao có bố trí hệ thống sàn ăn, bè nổi cho ếch lên ăn mồi, nghỉ ngơi. Có hệ thống kênh cấp thoát nước, hệ thống lưới che chắn, bảo vệ ếch.


* Giống và mùa vụ


- Mùa vụ thả từ tháng 4 đến tháng 9.


- Trước khi nuôi nên tắm ếch giống trong nước muối 3%.


- Chọn ếch giống 45 ngày tuổi, cỡ đồng đều (3 - 6 cm/con), khoẻ mạnh, màu sắc đậm, không nhiễm bệnh hay bị dị tật, quen ăn thức ăn chế biến.


- Mật độ nuôi 40 - 60 con/m2 hoặc 80 - 100 con/m2 (tuỳ vào trình độ nuôi).


Ảnh minh họa/Internet.

Ảnh minh họa/Internet.

* Thức ăn và cho ăn


- Chủ yếu là thức ăn công nghiệp hoặc chế biến sẵn (độ đạm > 30%). Khầu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch trong ao.


- Cho ăn: Tháng đầu cho ăn 3 - 4 lần/ngày, khi lớn cho ăn 2 lần/ngày (sáng và chiều).


Những vùng có sẵn tôm, cá, cua đồng, giun đất, trứng vịt loại thì có thể dùng thức ăn tự chế để hạ giá thành. Trộn những loại thức ăn thô trên với cám gạo, cho vào máy nghiền thức ăn, phơi khô trong bóng râm (không phơi trực tiếp dưới ánh sáng nắng mặt trời).


Nếu dùng thức ăn viên, rải trực tiếp xuống ao. Nếu dùng thúc ăn chế biến, để lên sàn ăn.


Nếu dùng thức ăn tươi sống, phải rửa sạch hoặc khử trùng trước khi cho ăn. Không thay đổi thức ăn hàng ngày đột ngột, vì ếch sẽ không ăn cho dù nó đang đói.


* Chăm sóc



- Thay nước: tháng đầu: 2 - 3 ngày thay nước 1 lần, mực nước luôn duy trì 20 - 30 cm. Từ tháng thứ 2 trở đi: thay nước hàng ngày, mực nước có thể giảm xuống còn 10 - 15 cm. Nên thay nước vào buổi sáng. Nếu dùng nước giếng khoan, nên trữ lại ít nhất 1 ngày mới sử dụng.


- Chăm sóc, quản lý ao: Thường xuyên bổ sung vitamin, thuốc bổ, men tiêu hoá vào khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho ếch.


Mỗi tuần cho ếch tắm bằng thuốc sát trùng (thuốc tím, lodine)/lần.


Định kỳ 2 tuần cân ếch để có cơ sở điều chỉnh chế độ cho ăn và chăm sóc. Đồng thời phân loại ếch theo trọng lượng để tách nuôi riêng, tránh trường hợp cắn hoặc ăn thịt lẫn nhau.


* Thu hoạch


Ếch đạt 200g/con sau 3 - 3,5 tháng nuôi. Có thể thu toàn bộ.


Theo khuyennongvn.gov[/mota]

Kỹ thuật nuôi lươn thương phẩm


Hình thức nuôi lươn hiệu quả và phổ biến hiện nay là nuôi trên bể không bùn bằng giống nhân tạo và sử dụng thức ăn viên. Hình thức nuôi này có ưu điểm: Cỡ giống đồng đều, chất lượng giống ổn định, sử dụng được thức ăn viên giúp cho tỷ lệ sống cao và thuận lợi trong quá trình nuôi; đặc biệt mô hình này ít tốn diện tích phù hợp cho hộ ít đất sản xuất, phù hợp cả nơi đô thị, ít tốn thời gian, dễ áp dụng kỹ thuật, cho thu nhập cao.

Bể nuôi là bể xi măng, bể lót bạt và có thể tận dụng chuồng heo cũ để nuôi. Lươn có thể dựng thân vào thành bể để ngoi lên bò ra ngoài, nên bể cần có đủ độ cao để tránh lươn bị thất thoát. Bể có hình chữ nhật chiều rộng 1,0 - 2m và chiều dài 2 - 5m, độ sâu tối thiểu từ 0,8 – 1,0m. Để tiết kiệm diện tích xây dựng và dễ quản lý, nên thiết kế khu nuôi thành nhiều bể liên tiếp. Thành và đáy bể cần làm bằng các vật liệu trơn láng. Mặt đáy cần bằng phẳng và hơi nghiêng về phía ống thoát nước. Toàn bộ hệ thống nuôi được che bởi mái che nhằm hạn chế ánh sáng chiếu trực tiếp vào bể làm nhiệt độ nước tăng cao ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lươn. Ống cấp nước: Nối thông với nguồn nước cấp, đặt bằng hoặc cao hơn mặt bể. Ống thoát nước đặt sát đáy bể. Ống xả tràn đặt cao hơn mực nước trong bể khoảng 10cm (để xả bỏ lớp nước mặt sau những trận mưa). Tất cả các ống nói trên đều phải được chắn lưới để tránh lươn chui ra ngoài.

* Cách làm nơi trú ẩn cho lươn: Có thể dùng vĩ tre hay dây ni lông

Vĩ tre: Tre (hay tầm vông) cắt thành từng đoạn gần bằng chiều dài bể (để nguyên hoặc chẻ ra tùy cỡ cây) và bào gọt thật láng. Sau đó đóng đinh hoặc dùng dây buộc chặt thành những tấm vạt, cây cách cây 4 - 6 cm. Diện tích các tấm vạt bằng 60 - 70% diện tích bể. Cần chú ý các vị trí đóng đinh bị nhô ra có thể làm lươn bị sây sát. Vĩ tre cần ngâm nước trước khi sử dụng. Mỗi bể đặt 2 - 3 vạt, tấm trên cùng thấp hơn mặt nước 1cm. Để nuôi loại lươn từ 50con/kg trở lên: Các thanh tre trong vĩ có khoảng cách 3cm, chiều cao 3cm, dùng dây bện đan ngang, có thể xếp 4 vĩ chồng lên nhau. Để nuôi loại lươn từ 50con/kg trở xuống: Các thanh tre trong vĩ có khoảng cách từ 1,5 - 2cm, chiều cao từ 1,5 - 2cm, có thể làm 3 vĩ chồng lên nhau (có thể thay tre bằng ống nhựa).

Dây ni lông: Cần có vài chục đến vài trăm đoạn dây ni lông, được chia ra thành nhiều bó. Bố trí cây đòn gác ngang trên thành bể. Một đầu bó ni lông cột vào cây đòn, một đầu thả tự do vào bể. Những búi sợi ni lông trong bể sẽ đóng vai trò như tổ của lươn. Để tiết kiệm nên dùng loại dây ni lông tái sinh (bản rộng 0,6 - 1cm và dài từ 1,2 - 1,5 m). 

Ngoài bể nuôi lươn thương phẩm nên có ba bể: Bể lắng, bể lọc và bể xử lý chất thải. Sàng ăn là khung hình chữ nhật làm bằng tre hoặc ống nước, rải thức ăn vào bên trong khung để dễ quản lý thức ăn.

* Chọn và thả giống:

Nên chọn mua con giống nhân tạo ở các cơ sở sản xuất có uy tín, con giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, có màu vàng đặc trưng của loài, bơi nhanh nhẹn, da không bị trầy xước, mất nhớt. Cỡ giống khoảng 300 - 500 con/kg. Đặc biệt lươn giống nhân tạo này đã được thuần bằng thức ăn viên.

Do nguồn lươn giống bán nhân tạo có kích cỡ nhỏ nên cần bố trí vào bể nuôi dưỡng đến khi lươn đạt kích cỡ lươn giống (40 - 60 con/kg). Mật độ nuôi dưỡng (giai đoạn 1): 200 – 300 con/m2. Mật độ nuôi thương phẩm (giai đoạn 2): 150 - 200 con/m2.

Trước khi thả lươn giống vào bể nuôi, tắm qua dung dịch nước muối nồng độ 2 - 3% khoảng 1 - 2 phút. Cần kiểm tra kỹ, nếu phát hiện những con bị bệnh hay yếu, lờ đờ, xây sát thì phải loại ra. Ngày thứ nhất sau khi bố trí lươn vào bể nuôi dưỡng không nên cho ăn để lươn ổn định. Từ ngày thứ 2 trở đi bắt đầu cho lươn ăn trùn chỉ hoặc trùn quế để tăng cường sức đề kháng và khả năng chống chịu với bệnh. Khẩu phần ăn bằng 1 - 2% trọng lượng đàn. Thức ăn rải trong sàng ăn để dễ quản lý thức ăn. Cần quan sát và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Nếu không có nguồn trùn thì cho lươn ăn thức ăn công nghiệp với khẩu phần ăn chiếm khoảng 1 - 3% trọng lượng đàn, hàm lượng đạm 42 - 44%, mỗi ngày cho lươn ăn 2 lần, lần 1 lúc 6 giờ sáng, lần 2 lúc 5 giờ chiều.

Trong giai đoạn nuôi dưỡng này nên thay nước toàn bộ hàng ngày và vệ sinh bể nuôi để kích thích lươn bắt mồi. Sau 2 - 3 tháng nuôi dưỡng lươn đạt cỡ giống lớn thì tiến hành phân cỡ và san bể nuôi để lươn trong mỗi bể có kích cỡ đồng đều. Do lươn có tập tính ăn lẫn nhau, nên khoảng 1 tháng nuôi hoặc thấy lươn có phân đàn cần tiến hành phân cỡ ra nuôi riêng để hạn chế lươn hao hụt. Trước khi phân cỡ cho lươn nhịn ăn 1 ngày, dùng sàng trơn láng để phân loại cỡ lươn hoặc dùng vợt để bắt lươn (không dùng tay).

* Chăm sóc, quản lý:

Duy trì mức nước bể nuôi trong suốt quá trình nuôi đạt 20 - 50cm (vừa ngập các giá thể), không cần cho nhiều. Thay nước: Thay 100% lượng nước trong bể trước hoặc sau khi cho ăn 1 - 2 giờ, 1 - 2 lần/ngày. Nếu nuôi mật độ dầy, nên thay nước mỗi ngày 2 lần; còn ở mật độ thưa thì 1 ngày thay nước 1 lần. Nhiệt độ nước mới và nước cũ không chênh lệch quá 3°C. Khi thay nước phải kết hợp xịt rửa vệ sinh và quan sát thấy lươn có dấu hiệu bệnh nên bắt và tách riêng lươn bệnh ra thau hoặc thùng để điều trị tránh bị lây lan mầm bệnh. Sau đó bơm nước mới vào và duy trì mực nước cố định. Lươn nuôi với mật độ dày, điều kiện môi trường rất dễ bị ô nhiễm thì lươn cũng dễ mắc một số bệnh. Khi đã mắc bệnh thì khả năng lây lan là rất nhanh. Do đó, việc giữ vệ sinh cho khu vực nuôi, đặc biệt là nguồn nước phải hết sức chú ý.

Định kỳ bổ sung thêm men tiêu hóa, Vitamin C, sổ giun sán và trộn tỏi vào thức ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho lươn. Đặc tính của lươn là ăn vào ban đêm, do đó, ban đêm cho lươn ăn lượng thức ăn khoảng 80%, còn 20% cho ăn vào ban ngày.

Khi rãi thức ăn nếu thấy hiện tượng lươn bắt mồi kém, âm thanh bắt mồi của lươn rời rạc. Lươn bò rải rác trong bể mà không nằm trú ẩn trong giá thể (vĩ tre, sợi ni lông). Các đặc điểm này đồng thời xuất hiện là dấu hiệu cho biết lươn nuôi có triệu chứng bệnh. Khi phát hiện lươn bệnh thì phải ngừng cho ăn, thay nước mới, sử dụng nước muối có hàm lượng 3 - 5% tắm cho lươn và theo dõi kỹ đàn lươn để có biện pháp xử lý kịp thời.

* Thu hoạch: Sau thời gian nuôi, khi lươn đạt kích cỡ thương phẩm thì tiến hành thu hoạch, trước khi thu hoạch nên cho lươn nhịn ăn 1 ngày. Thông thường, cỡ lươn giống thả từ 100 – 300 con/kg, thời gian nuôi từ 8 - 10 tháng lươn có thể đạt được 150 - 250g/con. Cỡ lươn thả 300 - 500 con/kg thời gian nuôi từ 10 - 12 tháng đạt cỡ 150 - 250g/con. Năng suất: Tùy theo mật độ nuôi lươn, năng suất có thể đạt từ 15 - 20kg/m2/vụ (mật độ 150 con/m2), năng suất có thể tăng gấp đôi nếu nuôi mật độ cao. Sau khi thu hoạch cần vệ sinh bể sạch sẽ để chuẩn bị nuôi vụ tiếp theo.


                                                                                                                       Nguyễn Thị Phương Dung

<gia>340 tr</gia><dientich>500 m<sup>2</sup></dientich><vitri>Mặt tiền</vitri><diachi>Lý Tự Trọng, Bến Nghé, Quận 1</diachi>


Yêu cầu kỹ thuật nuôi trùn quế làm giàu hiệu quả

 Phân trùn quế hay còn gọi là trùn quế, là hình thức chuyển đổi phân chuồng và phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ giàu dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên mô hình nuôi giun quế vẫn chưa được nhân rộng và khai thác đúng tiềm năng vốn có bởi kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế. Do đó, để nghề nuôi trùn quế trở thành mô hình làm giàu của bà con nông dân, hãy cùng Đặng Gia Trang học ngay “Kỹ thuật nuôi trùn quế” qua bài viết dưới đây nhé.


                                                   Xem video hướng dẫn tại đây 

1/ ĐIỀU KIỆN NUÔI TRÙN QUẾ TRONG HỘ GIA ĐÌNH 

– Có nguồn phân động vật tại chỗ như phân trâu bò, phân dê thỏ, phân gà, phân lợn; Các nguồn rác thải hữu cơ như: rơm rạ, rau quả, bã trái cây đã ép lấy nước, xơ mít, vỏ dứa, xoài, thân cây chuối…Đây là nguồn rất dễ kiếm đối với những hộ nông dân, đặc biệt là những hộ kinh tế VAC.


– Phải có một chuồng nuôi thích hợp. Tất cả những dụng cụ đựng mà đảm bảo thoát nước, không úng ngập và chứa đựng được thì đều có thể làm chuồng nuôi giun. Ví dụ như thùng phuy, can nhựa, khay, thùng, chậu, chuồng trại cũ bỏ không, lều lán…

– Tuy nhiên trên thực tế việc nuôi giun tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Để nuôi trùn quế thành công và đạt hiệu quả kinh tế cao, chúng ta cần tuân thủ những yêu cầu kỹ thuật sau:


1.1 Về người nuôi

– Nắm được một số đặc tính sinh lý, sinh thái cơ bản của con giun.

– Có kiến thức tối thiểu về qui trình công nghệ nuôi giun.

– Thực hành đúng các yêu cầu kĩ thuật và qui trình công nghệ nuôi giun.


1.2 Về chuồng trại nuôi: 

Chuồng trại nuôi phải đặt nơi thoáng mát, không bị ngập úng và không nên bị ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, có nguồn nước tưới thường xuyên, trung tính và sạch; cần thoát nhiệt, thoát nước tốt. Bảo đảm các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm. Nên có biện pháp ngăn ngừa các thiên địch (kiến, cóc, nhái..) Hố hoặc bể nuôi giun quế phải có mái che tránh mưa nắng. Ban đêm nên có đèn sáng, nhất là vào lúc mưa gió để tránh giun bò đi nơi khác.


1.3 Về chất nền: 

Là yếu tố quan trọng cho trùn quế trong thời gian đầu sinh sống, là nơi trú ẩn khi giun tiếp xúc với môi trường mới và phải đạt các yếu tố: tơi xốp, sạch, giàu dinh dưỡng…Chất nền có cơ cấu xốp, kết cấu tương đối thô, có khả năng giữ ẩm tốt, không gây phản ứng nhiệt, pH không nằm ngoài phổ chịu đựng của giun, có thể là môi trường sống tạm của giun khi gặp điều kiện bất lợi.


1.4 Về nhiệt độ: 

Nhiệt độ thích hợp nhất cho giun phát triển là từ 20oC – 30oC. Đối với bà con ở một số khu vực phía Bắc cần chú ý: Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp, lúc này chúng ta cần che chắn kỹ, thắp đèn điện vào ban đêm sao cho luôn giữ nhiệt độ ở mức thích hợp, tránh trường hợp giun bị ngủ đông hoặc chết cóng.


1.5 Về độ ẩm:

Phải thường xuyên tưới nước cho giun (vào mùa hè và mùa khô ít nhất là 2 lần / ngày). Có thể nhận biết độ ẩm thích hợp bằng cách: Lấy tay nắm phần sinh khối trong chuồng, sau đó thả ra; nếu thấy phần sinh khối còn giữ nguyên và tay ta chỉ ướt là đủ, nhưng nếu thấy nước chảy ra hoặc phần sinh khối bị vỡ và rơi xuống như vậy là quá ướt hoặc quá khô. Nên chú ý tưới giữ ẩm ngay từ khi mới thả giống vì giun đã bị sốc khi di chuyển. Hàng ngày kiểm tra độ ẩm và tưới bổ sung, tốt nhất là tưới nhiều lần trong ngày khi trời nóng, lượng nước cho mỗi lần tưới ít. Nước tưới nên có pH trung tính, không nhiễm mặn hoặc phèn. Nếu sử dụng chất nền có kết cấu hạt xốp và to thì độ ẩm có thể duy trì ở mức cao và ngược lại.


1.6 Về ánh sáng:

Giun rất sợ ánh nắng nên ta cần phải che chắn chuồng thật kỹ vào ban ngày để tránh tia tử ngoại lọt vào chuồng. Tốt nhất là có tấm phủ trên mặt luống nuôi. Tuy nhiên cần phải giữ cho chuồng thoáng mát.


1.7 Về không khí: 

Khí Co2, H2S, SO3, NH4 là kẻ thù của giun nên thức ăn của giun phải sạch và không có các thành phần hóa học gây bất lợi cho giun.


1.8 Về thức ăn:

Mỗi ngày giun tiêu thụ một lượng thức ăn tương đương với trọng lượng cơ thể chúng, nên chúng ta phải chắc rằng đủ lượng thức ăn cần thiết để nuôi giun. Thức ăn giun gồm: Phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm rạ, rác hữu cơ.. Trong đó phân bò tươi và phân trâu tươi là món khoái khẩu nhất của giun; còn lại phân gà, phân lợn, phân vịt, cần phải ủ cho hoai trước khi cho ăn. Thức ăn là chất thải hữu cơ nên ở dạng đang phân hủy, không nên có hàm lượng muối và amoniac quá cao; chủng loại tương đối đa dạng nhưng thích hợp nhất là những chất liệu có tỷ lệ C / N vào khoảng 10 : 1 như phân gia súc, hấp dẫn giun hơn là các loại phân khô hoặc đã qua giai đoạn ủ.

Có thể chế biến thức ăn giun gồm rơm rạ, bã mía, mùn cưa… 50 %; lá xanh, rau các loại, vỏ chuối… 20 % và phân gia súc, gia cầm 30 %. Trong đó phân trâu bò là tốt nhất. Cứ 2 kg giun giống (khoảng 5000 con) tiêu thụ mỗi ngày 1-2 kg phân ủ, cứ 1000 con hàng tháng ăn hết 100 kg phân ủ. Trộn đều các loại nguyên liệu theo tỷ lệ 70 % nước, 30 % phân rác… (cất nguyên liệu rơm rạ…) đem ủ như ủ phân đống ngoài trát bùn chặt kín, nhiệt độ tăng cao, cho đến 3 – 4 tuần lễ. Khi nhiệt độ hạ xuống bằng nhiệt độ môi trường thì cho giun ăn.


2/ CÁC MÔ HÌNH NUÔI TRÙN QUẾ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều mô hình nuôi trùn quế: từ đơn giản như nuôi trong khay, chậu trên một diện tích nhỏ, đến nuôi trên đồng ruộng (có hoặc không có mái che), hay nuôi trong những nhà nuôi kiên cố… nhưng nhìn chung, các mô hình này đều phải đảm bảo được những yêu cầu kỹ thuật phù hợp với đặc điểm sinh lý của con giun quế.


2.1 Nuôi trong khay chậu:

Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được. Mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô… Các thùng gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m2 với chiều cao khoảng 0,3 m). Các dụng cụ này nên được đặt trên những cái khung nhiều tầng để dễ chăm sóc và tận dụng được không gian. Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt ở nơi có ánh sáng hạn chế càng tốt. Chúng phải được đục lỗ thoát nước, những lỗ này cần được chặn lại bằng bông gòn, lưới… để không bị thất thoát con giống. Mô hình nuôi này có ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong gia đình hoặc tận dụng thời gian rảnh rỗi. Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễ quan sát và gọn nhẹ. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơn các mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc cho trùn quế phải được chú ý cẩn thận hơn.


2.2 Nuôi trên đồng ruộng có mái che:

Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp cho những vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải. Các luống nuôi có thể là ô đào sâu trong đất hoặc làm bằng các vật liệu nhẹ như bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2 m, độ sâu (hoặc cao) khoảng 30 – 40 cm, bảo đảm thoát được nước và thông thoáng. Mái che nên làm ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau. Độ dày chất nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần. Luống nuôi cần được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của trùn quế và chống các thiên địch.


Trại nuôi giun quế


Trại nuôi giun quế


2.3 Nuôi trên đồng ruộng không có mái che:

Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công nghệ nuôi giun Quế như Mỹ, Úc.. và có thể thực hiện ở quy mô lớn. Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2 m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi. Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ sung hàng tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng. Tuy nhiên, phương pháp nuôi này bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến giun Quế và cần một diện tích tương đối lớn.


2.4 Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp:

Là dạng Cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trong thau chậu. Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng. Việc chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy mô. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi. Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang thiết bị cao. Hiện nay, quy mô nuôi công nghiệp với những trang thiết bị hiện đại được áp dụng khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada.


3/ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ NUÔI TRÙN QUẾ

3.1 Chuẩn bị chuồng nuôi:

Tùy theo khả năng và quy mô kinh doanh mà chúng ta làm chuồng trại. Có các phương thức như: Nuôi giun trong hố đất, nuôi trong thùng hộp và nuôi trong bể xây.

a) Nuôi giun trong hố, luống đất:

Chọn nơi cao ráo, đào hố nuôi sâu 0,4 – 0,5 m, rộng 1 – 1,2 m, dài 2, 3, 4 m tùy yêu cầu. Xung quanh hố có rãnh thoát nước. Cũng có thể nuôi giun theo kiểu đắp luống trên mặt đất. Luống nuôi cao 0,3 – 0,4 m, rộng 1 m, dài từ 2 – 4 m. Xung quanh luống quây ván, thân cây chuối, bao bì đựng thức ăn, xếp gạch, xây bằng gạch để ngăn phân nuôi không tràn ra ngoài. Trong điều kiện chưa có vốn, chúng ta có thể quây mê bồ là có thể nuôi được. Trên luống có mái che, mái cách mặt luống khoảng 1 m. Luống nuôi giun rất thích hợp ở nông thôn vì có mặt bằng.


b) Nuôi trong thùng, hộp:

Nếu nuôi giun quế vào mục đích lấy giun nhằm tăng thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm, thủy hải sản hoặc xử lý rác thải nhà bếp, thì việc làm chuồng cũng hết sức đơn giản. Có thể tận dụng những vật có sẵn để nuôi như: chum, chậu, thùng phuy, can nhựa, xô nhựa, những bể nước không còn sử dụng v.v… Cũng có thể đóng thùng nuôi giun gồm nhiều tầng chồng lên nhau. Tùy theo qui mô lớn nhỏ và tùy theo điều kiện tận dụng nguyên vật liệu của mỗi nơi, mà thiết kế thùng nuôi có kích thước phù hợp. Thùng nuôi giun phải đảm bảo có thể chứa được thức ăn cho giun và không làm thay đổi nhiệt độ của thức ăn. Nước trong thức ăn khi lắng xuống phải có chỗ thoát, để phần thức ăn bên dưới không quá ẩm. Đóng thùng nuôi giun phải đảm bảo kín, không cho giun bò ra ngoài, bỏ trốn khỏi nơi nuôi. Thông thường các thùng làm bằng gỗ hoặc nhựa.

Trong điều kiện chật hẹp như ở đô thị hoặc nhà cao tầng, người ta sử dụng hộp nuôi giun. Hộp nuôi giun quế có kích thước 50 x 35 x 20 cm. Đáy hộp có khoan nhiều lỗ thoát nước đường kính khoảng 5 mm và được lót dưới chất dẻo ngăn không cho giun bò ra ngoài. Bên trong hộp phủ giấy màu đen hoặc lá chuối để tạo ra môi trường tối. Bốn góc hộp có chân cao khoảng 5 cm, để khi chồng lên nhau vẫn có kẽ hở cho thông không khí. Dưới mỗi chồng hộp đặt một cái chậu để hứng nước từ các hộp trên chảy xuống. Nếu quy mô lớn hơn ta có thể làm chuồng bằng tấm bạt nilon. Nuôi trùn quế trong gia đình với qui mô nhỏ, có thể làm những thùng nuôi vuông 70 x 70 cm và cao 45 cm. Với kích thước này có thể nuôi được 10.000 con giun. Các thùng có thể xếp chồng lên nhau và đặt trong nhà có mái che mưa che nắng.

c) Nuôi trong chuồng có ngăn bể xây:

Nếu nuôi trùn quế qui mô lớn nhằm kinh doanh thì nên xây chuồng. Có thể làm lán mái riêng để che mưa, che nắng hoặc tận dụng gian nhà sẵn có để làm chuồng. Tùy theo diện tích đất ta có thể xây chuồng dài rộng tùy ý. Thông thường chuồng xây ngang 1 m 50, cao 0,50 m, dài 2 m trở lên. Có thể xây các ô liền nhau thành từng dãy dài. Ở hai mặt đối diện mỗi ô nuôi chứa mỗi bên một cặp lỗ nhỏ để thoát nước. Chuồng nuôi giun được quây bằng gạch hoặc bằng gỗ ván. Tuỳ theo lượng giun giống ban đầu mà quây ô chuồng nuôi giun rộng, hẹp khác nhau với mức 3 – 4 kg giun giống / m2. Chiều cao của ô chuồng ban đầu là 30 – 40 cm, sau đó nâng cao dần theo lượng phân cho vào nhiều lên. Chuồng được che phủ bởi lá dừa, lá cọ, rơm, rạ là tốt nhất, vì tạo được bóng mát và giữ được độ ẩm cao. Tuy nhiên chuồng trại phải bảo đảm sự thông thoáng, không khí phải ra vào lưu thông.


3.2 Chuẩn bị dụng cụ:

– Cây chĩa 6 răng: Đây là dụng cụ dùng để xới, thu hoạch và chăm sóc giun. Không dùng các dụng cụ khác có thể làm giun bị thương.

– Tấm che phủ: Thường làm bằng bao tải đay hoặc chiếu cói là tốt nhất. Đặc điểm của giun là ăn và cặp đôi sinh sản thường ở trên bề mặt luống giun, nhưng phải ẩm và tối. Do đó người ta dùng tấm che phủ, vừa tạo bóng tối để giun liên tục ở trên bề mặt luống, ăn thức ăn và sinh sản, tăng năng suất nuôi giun; Mặt khác cũng dùng để giữ độ ẩm cho luống giun.

– Thùng tưới: Sử dụng các loại thùng có vòi sen như thùng tưới rau. Nếu không có thùng tưới thì có thể vẫy nước qua sàn rổ.

– Gáo múc thức ăn: Có thể dùng ca múc nước bằng nhựa có cán (loại 1 – 2 lít) hoặc mũ bảo hộ lao động bằng nhựa, có buộc thêm cán bằng tre trúc, dài khoảng 1 – 1,5 m.


3.3 Chuẩn bị chất nền:

Chất nền là nơi cư trú ban đầu của trùn quế. Khi bắt đầu nuôi hoặc sau mỗi lần thu hoạch giun và phân giun, chuẩn bị cho đợt nuôi tiếp phải rải chất nền vào luống nuôi. Vì vậy thao tác đầu tiên là phải chuẩn bị chất nền. Chất nền tốt nhất là phân bò cũ. Có 3 phương pháp chế biến chất nền là phương pháp ủ nóng, phương pháp ủ nguội và ủ hỗn hợp.

a) Phương pháp ủ nóng:

Để chế biến chất nền cần có phân trâu bò, phân lợn và chất độn như cỏ, rơm rạ, bèo, dây lang, thân cây lạc… hoặc lá cây khô (trừ lá xoan, lá lim, lá sắn có độc tố cao). Trùn quế rất sợ nước tiểu gia súc. Nếu phân có lẫn nước tiểu phải phun rửa để loại bỏ nước tiểu. Chất độn băm nhỏ. Chọn mặt nền cứng rải một lớp phân dày 10 – 15 cm, tiếp theo rải lên một lớp chất độn dày 10 cm có trộn vôi bột. Tiếp tục rải phân và chất độn theo thứ tự trên cho đến khi đống chất độn cao 1 – 1,5 m. Ở giữa đống ủ cắm một đoạn tre thông khí. Khi đánh đống xong (tỉ lệ: 7 phần phân trâu, bò để hoại ủ với 3 phần chất độn chặt ngắn), phủ lên đống phân một lớp che mưa nắng bằng vật liệu sẵn có như lá chuối, tấm tranh lợp. Đống ủ nên có kích thước sau: dài 1 m, rộng 1 m, cao 1 – 1,3 m. Cứ 5 – 7 ngày tưới nước và đảo đống chất nền 1 lần để đảm bảo chất nền luôn ẩm và có đủ không khí. Sau 3 – 4 tuần ủ, chất nền đã có thể sử dụng.

b) Phương pháp ủ nguội:

Phân gia súc và chất độn xếp lớp và đánh đống như đã mô tả trong phương pháp ủ nóng (không dùng vôi bột). Sau khi đánh đống xong phủ một lớp rơm, rạ mỏng và tưới nước cho ẩm. Tiếp theo lấy bùn trát kín đống ủ. Sau 3 tháng có thể đem sử dụng.

c) Phương pháp ủ hỗn hợp:

Phân chất độn xếp lớp và đánh đống như phương pháp ủ nóng. Sau 4 – 6 ngày nhiệt độ trong đống phân lên cao 70 độ C. Tưới nước cho ẩm rồi lấy bùn trát kín. Sau 2 tháng có thể đem sử dụng.


3.4 Rải chất nền đệm:

Sau khi đã chuẩn bị xong chất nền, rải chất nền vào luống nuôi hoặc ô nuôi một lớp dày từ 10 – 20 cm, tưới ẩm, xới chất nền rồi san bằng. Chất nền rải trước lúc thả giun 2 – 3 ngày. Nếu thả giống bằng giun sinh khối thì có thể không cần rải chất nền.


3.5 Ủ phân làm thức ăn cho giun:

Ngoài phân tươi của gia súc ăn cỏ là có thể cho giun ăn trực tiếp, ta có thể ngâm phân tươi đó với phân chuồng đã ủ hoại làm thức ăn cho giun bằng các hỗn hợp sau:

– 50 kg cỏ khô hay rơm rạ, thân đậu, bã mía, mạt cưa, giấy vụn, …

– 30 kg phân gia súc (trâu, bò, heo, … )

– 20 kg thực vật tươi (rau, cỏ, vỏ chuối, …)

Tổng cộng được 100 kg vật chất thô, ở giữa hố ủ cắm một thanh tre hay khúc gỗ dài từ đáy hố nhô lên khỏi mặt hố. Mỗi ngày tưới nước vừa, khi tưới lắc thanh tre, nhằm mục đích cho nước ngấm đều hố ủ. Sau thời gian khoảng 03 tháng thì phân hoai. Riêng rơm đã mủn sẵn thì thời gian ủ sẽ ngắn hơn.


3.6 Chuẩn bị giun giống:

Ở Việt Nam, giống và chủng loại giun khá phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ sở nghiên cứu và sản xuất giống giun phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, cho năng suất cao còn rất hạn chế. Nên liên hệ với các trại chăn nuôi giun chuyên nghiệp để có được nguồn giống khoẻ, chất lượng cao. Khi mua giống, tốt nhất là mua ở dạng sinh khối (có lẫn cả giun bố mẹ, giun con, trứng kén giun chưa nở và cơ chất mà giun đang sống quen), để giun không bị “sốc” trong môi trường mới lạ và sinh sản nhanh.


Giun đất có nhiều loại, hiện có ba giống giun được nuôi phổ biến nhất là: trùn quế, giun Nhật Bản và giun Đại Bình 3. Ba giống giun kể trên có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, thích hợp với việc làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản, cho hiệu quả kinh tế cao. Chúng ta thường nuôi trùn quế, vì nó sinh sản rất nhanh, dễ nuôi, cho năng suất cao và thích hợp với những vùng nhiệt đới. Có thể nói về việc tăng số lượng, giun là loại động vật sinh sản nhanh nhất.


3.7 Thả giun giống:

Thả giống giun thường vào buổi sáng. Khi chuẩn bị ô chuồng xong thì thả giun giống bằng cách rải sinh khối vào theo một đường thẳng giữa ô luống đó hoặc rải giun giống thành từng đám giữa mặt luống. Khoảng 5 – 7 phút sau, giun sẽ chui hết xuống lớp sâu. Quan sát mặt luống, loại bỏ những con giun ngọ nguậy tại chỗ, không có khả năng di chuyển xuống lớp đất sâu. Đó là những mẩu giun bị thương trong quá trình gom giống, chuyên chở giống. Sau khi nhặt bỏ hết giun bị thương, dùng doa tưới cây, tưới ẩm nhẹ lên luống nuôi là xong. Hàng ngày phải tưới ẩm mặt luống. Nếu trời nóng quá 34 – 35 0 C nên tưới nhiều lần để giảm nhiệt độ.


Mật độ thả quyết định năng suất thu hoạch. Mật độ thích hợp khoảng 9 – 12 kg sinh khối / m2, tương đương 3 – 4 kg giun tinh / m2 (giun Quăn khoảng 5000 con / m2, trùn quế khoảng 10.000 con / m2), mới đảm bảo được sau 30 ngày cho 1 lần thu hoạch, với năng suất 10 – 15 kg / m2, tương đương với 100 – 150 tấn giun / ha. Nếu ta có đầy đủ nguồn thức ăn, có thể rút ngắn chu kỳ thu hoạch là 20 ngày.


3.8 Che phủ luống giun:

Giun thường có tập tính sống trong môi trường tối. Hễ gặp ánh sáng là giun rút sâu xuống dưới mặt luống. Che phủ mặt luống là biện pháp tạo bóng tối cho giun lên mặt luống ăn thức ăn và giao phối sinh sản cả ngày lẫn đêm. Tấm che phủ còn có tác dụng giữ độ ẩm luống nuôi. Sau khi thả giun giống, lấy bao tải cũ hoặc chiếu cói rách, bìa các tông, lá chuối, lá cọ …đậy lên bề mặt ô chuồng giun để tạo bóng tối cho giun nhanh chóng quen nơi ở mới, rồi lấy ô roa tưới nước lên trên bề mặt, sao cho chất nền đệm ở dưới được ướt đẫm đều.


3.9 Tưới ẩm luống nuôi:

Mùa hè tưới 2 – 3 lần ngày, mùa đông tưới 1 – 2 lần / ngày. Ngày khô nóng tưới nhiều, ngày mưa rét tưới ít hoặc không cần tưới. Độ ẩm thích hợp luống nuôi là 70 %. Muốn kiểm tra độ ẩm thích hợp, lấy một nắm thức ăn hay chất nền bóp nhẹ, nếu ứa nước ở kẽ ngón tay là vừa. Nếu nước nhỏ giọt hoặc chảy thành dòng là quá ẩm. Khi quá ẩm điều chỉnh bằng cách giảm lần tưới hoặc giảm lượng nước tưới. Nếu bóp chặt mà không có nước là bị khô, cần tưới nước ngay.


3.10 Cho giun ăn và chăm sóc giun:

Sau khi thả giun giống được 1 – 2 ngày thì nên cho giun ăn. Lượng thức ăn mỗi lần khoảng 5 cm trên mặt luống. Sau đó sẽ tiếp tục cho ăn khi thấy trên bề mặt luống đã xốp và không còn thức ăn cũ. Chú ý không nên cho giun ăn khi lượng thức ăn cũ còn quá nhiều, vì lượng thức ăn bị tồn đọng phía dưới luống làm cho giun chỉ lo tập trung ăn và sống phía dưới luống mà không sống trên bề mặt. Điều này làm cho giun giảm khả năng sinh sản, năng suất nuôi giun sẽ bị giảm.

Các loại thức ăn của giun là phân tươi như phân trâu, bò, lợn, dê, thỏ, ngựa, hoặc thức ăn là rác thải hữu cơ đã hoai mục, được ủ theo các phương pháp nêu trên – Đều trộn lẫn và được ngâm vào bể có tưới nước sạch trong 1 – 2 ngày, thành dạng lỏng sền sệt, rồi mới múc vào cho giun ăn là tốt nhất. Cần lưu ý giun không chịu nước tiểu, vì vậy nếu phân có lẫn nước tiểu phải phun rửa sạch nước tiểu trước khi cho ăn. Phân trâu bò, phân lợn vón cục cần bóp vụn trước khi cho ăn.


Khi cho ăn, giở tấm phủ và múc thức ăn cho giun. Thức ăn rải trên mặt luống thành vệt dài hoặc từng đám mỏng cách đều nhau. Lượng thức ăn tùy thuộc vào sức tiêu thụ của từng luống cụ thể và tùy mùa. Vào mùa hè, cứ 2 – 3 ngày cho giun ăn 1 lần. Lượng thức ăn bón trên bề mặt luống dày từ 2- 3 cm. Đến mùa đông, lượng thức ăn bón nhiều hơn, dày khoảng 5 cm và bón phủ đầy luống giun. Thời gian cho ăn cũng thưa hơn mùa hè (3 – 4 ngày cho ăn 1 lần). Thức ăn phải bón thành từng ụ, hoặc theo từng dãy dài để khi nhiệt độ trong luống tăng cao hoặc trong thức ăn có chất gây sốc thì giun có khoảng trống chui lên thở. Sau khi bón xong, đậy tấm phủ lại và tưới ẩm.


Nuôi trùn quế hầu như không bị dịch bệnh, nhưng vào mùa hè có thể gặp một số bệnh sau:


– Bệnh no hơi: Do giun ăn những loại thức ăn quá giàu “chất đạm” như phân bò sữa, lợn… làm cho phân có mùi chua. Sau khi cho ăn, giun có hiện tượng nổi lên trên mặt luống và trườn dài, sau đó chuyển sang màu tím bầm và chết. Cách tốt nhất khi phát hiện trường hợp này nên hót hết phần phân lỡ cho ăn ra và tưới nước lên luống.


– Bệnh trúng khí độc: Do đáy chất nền đã bị thối rữa, trong thời gian dài chất nền thiếu O2 làm cho khí CO2 chiếm lĩnh hết khe hở của chất nền, làm giun chui lên trên lớp mặt và bò đi. Cách khắc phục: Dùng cuốc chĩa xới toàn bộ mặt luống và tưới nước.


3.11 Nhân luống:

Thời gian đầu luống còn ít kén và giun chưa thích nghi được môi trường mới, nên sau 2 tháng đầu thì số giống chúng ta mới được nhân đôi, những lần sau chỉ 1 tháng. Lúc này chúng ta có thể tách giun để nhân luống hoặc cho gia súc, gia cầm ăn. Trước khi nhân luống 2 ngày, ta cho giun ăn. Khi đó giun tập trung trên bề mặt luống, bốc lấy phần sinh khối phía trên của luống, thành những rãnh cách đều khoảng 20 cm rồi rải vào luống mới (cũng thành từng rãnh 20 cm) và tiếp tục cho ăn vào những chỗ rãnh trống, cả trên luống cũ và mới, cho đến khi đầy luống.

3.12 Bảo vệ luống giun:


Hàng ngày theo dõi luống giun, nếu thấy kiến phải tiêu diệt ngay. Diệt kiến có thể dùng cách đơn giản là đốt những vệt kiến bò vào luống giun, nhớ khi đốt đậy tấm phủ giun lại, hoặc cho nước ngập hố giun và kiến nổi lên mặt nước, dùng rọi đốt kiến trên mặt nước, sau đó tháo nước ra. Ngoài ra có thể dùng thuốc diệt kiến quét trên vách chuồng.

Một điều cần lưu ý là luống giun phải được che chắn hoặc bao lưới xung quanh để tránh gà, cóc, ếch nhái, rắn mối hoặc chuột ăn giun. Ngoài ra, khi nuôi trùn quế phải thật chú ý với các loại thuốc trừ sâu, hoá chất như xà phòng, nước rửa chén, muối ăn, nước giải, tro bếp, đất bột, … rất độc hại đối với giun, giun sẽ lập tức chết khi tiếp xúc.

Giun cũng có thể bò đi khỏi thùng, hộp, chuồng nuôi hoặc bị chết khi gặp những điều kiện bất lợi của môi trường sống như: Nhiệt độ, độ ẩm, độ pH quá cao hoặc quá thấp (do không tưới ẩm đúng kĩ thuật hoặc nước tưới không đảm bảo), thùng đậy nắp hoặc phủ nilon quá kín, trời quá nắng, bị nước mưa tạt vào, tiếng ồn và tiếng động xung quanh quá lớn v.v…


                                                                     Xem video hướng dẫn tại đây 

                                                                                                                Nguồn: www.agritrade.com.vn

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

Dịch vụ thiết kế, rip, convert theme blogspot

♦ Thiết kế giao diện riêng theo yêu cầu của từng khách hàng.
♦ Đảm bảo dịch vụ cao cấp, chế độ hậu mãi tốt.
♦ Giá cả cạnh tranh nhất trên thị trường hiện nay.

Bảng giá dịch vụ chi tiết
Dịch vụGiá (VNĐ)
Dịch vụ thiết kế
Thiết kế website trên nền tảng blogspot
Thiết kế theo yêu cầu hoặc làm giống các giao diện khác trên mạng (kể cả các giao diện ở nền tảng khác hay người trong chuyên môn gọi là rip hoặc convert về blogspot)
200,000 - 400,000
Thiết kế website độc quyền
Thiết kế website trên nền tảng blogspot, chúng tôi sẽ không dùng template đó để bán lại cho bất kì ai
400,000 - 600,000
Rip BlogRip (copy) giao diện làm từ blogspot khác100,000 - 400,000
Gói hỗ trợ đi kèm
Hỗ trợ thường
(Hỗ trợ cài đặt, sửa lỗi, hướng dẫn sử dụng template)
Miễn phí 14 ngày đầu
Hỗ trợ vàng
(Hỗ trợ cài đặt, sửa lỗi, thêm widget theo yêu cầu, hướng dẫn sử dụng template và đặc biệt được nâng cấp template miễn phí trọn đời (khi có bản cập nhật mới)
100,000
Dịch vụ sửa chữa
Sửa lỗi template
Fix các lỗi như responsive, lỗi css, lỗi js ...
20,000 - 50,000
Xóa bản quyền
Xóa bản quyền chân trang không bị chuyển hướng
20,000 - 40,000
Liên Hệ Ngay

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2018

BĐS phía Nam và yếu tố tăng giá của dự án Gelexia RiverSide.

I.Xu hướng BĐS phía Nam:

Từ khoảng giữa 2016, thị trường chứng kiến sự “trỗi dậy” mạnh mẽ của các dự án bất động sản phía Nam Hà Nội. Và theo các chuyên gia, không phải ngẫu nhiên các dự án phía Nam Hà Nội lại có bước chuyển mình mạnh mẽ như vậy.

Vì giao thông ngày càng thuận lợi và phát triển

Quy hoạch phát triển các tuyến đường

- Đường 2.5

- Đường Tam Trinh

- Đường Vĩnh Tuy – Yên Duyên.

- Đường Minh Khai, Lĩnh Nam.

Các tuyến đường này khi hoàn thành sẽ tạo bước chuyển mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng. Việc kết nối đến các khu vực sẽ được thông suốt sẽ thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của khu vực.

Vì mạng lưới giáo dục, y tế, thương mại đầy đủ và hiện đại


BĐS Phía Nam Hà Nội “nổi sóng” vì có cơ sở hạ tầng hoàn thiện và dịch vụ tiện ích đầy đủ

Xét trên bất cứ khía cạnh nào, cũng đều phải thừa nhận, đây là một trong những khu vực đáng sống nhất Hà Nội.

Một hệ thống trường học đa dạng từ công lập đến trường quốc tế, từ cấp mầm non đến đại học.

Mạng lưới các bệnh viện lớn cũng dày đặc với bệnh viện Vinmec, bệnh viện Việt Pháp, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Quân đội 108…

Các trung tâm mua sắm, vui chơi và giải trí hiện đại cũng đã được xây dựng đồng bộ mà hiếm khu vực nào ở Hà Nội có được như trung tâm thương mại Vincom Mega Mall Times City, đại siêu thị Aeon Mall…

Sầm uất và tiện nghi, nhưng không gian sống vẫn an lành bởi có hệ thống công viên và cây xanh rộng lớn: Công viên Yên Sở, Công viên Thống Nhất, Công viên Hồ Đền Lừ, Công viên Thanh Nhàn.

Vì hàng loạt các “ông lớn” BĐS đã và đang lựa chọn làm nơi “đất lành chim đậu”


Lợi thế nằm cận kề trung tâm thành phố và kết nối với các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh…, khu vực cửa ngõ Đông Nam đã trở thành mảnh đất “màu mỡ” để đầu tư bất động sản. Và đó là lí do hầu hết các ‘ông lớn’ như Vingroup, Tân Hoàng Minh, MIK Group, Geleximco, T&T Group đều đã hiện diện ở khu vực này.

II. Yếu tố tăng giá của dự án Gelexia RiverSide

Chủ đầu tư uy tín: Tập đoàn GELEXIMCO.

Vị trí dự án: Gần cạnh Hồ Yên Sở, KĐT Gamuda và cách sông Hồng chỉ 3 km. Với lợi điểm gần sông hồ, dự án sở hữu tầm nhìn tuyệt đẹp và không gian thoáng đãng, mát mẻ.

Hạ tầng giao thông thuận lợi và phát triển.

Mạng lưới giáo dục, y tế, thương mại đầy đủ và hiện đại.

Tiện ích của dự án: Toàn bộ dự án được quy hoạch theo mô hình khu đô thị khép kín, chất lượng cao với hạ tầng tiện ích và dịch vụ đồng bộ, từ trung tâm thương mại, hệ thống các trường mầm non, tiểu học, công viên cây xanh cho đến bể bơi... Đặc biệt, hơn 80% căn hộ chung cư của dự án đều sở hữu tầm view ra công viên Yên Sở, hồ điều hòa, hoặc hướng về khuôn viên xanh.

Mức giá bán: Chỉ 19 triệu đồng/m2, các căn hộ tại Gelexia RiverSide luôn thấp hơn khu vực từ 1-3 triệu đồng.

5 nguyên tắc sắp xếp tủ quần áo

Sắp xếp quần áo trong tủ đựng gọn gàng không chỉ khiến bạn có thêm nhiều không gian để chứa đồ mà còn tạo cho bạn tâm lý thoải mái, không muộn phiền. Nơi đây chính là hình ảnh phản chiếu cuộc sống thường ngày của bạn. Sự tôn trọng đồ vật xung quanh cũng là cách bạn thể hiện sự tôn trọng với cuộc sống của chính mình.

1. Tân trang lại tủ đã cũ

Hãy bắt tay làm mới chiếc tủ bằng việc lấy tất cả quần áo ra, giặt sạch đồ bị ẩm mốc, gấp lại gọn gàng. Sau khi hút hoàn toàn bụi bẩn trong tủ, bạn hãy lau sạch tủ bằng nước ấm thật cẩn thận.

Nếu tủ đã cũ, bạn hãy sơn lại theo màu yêu thích và phù hợp với không gian trong phòng. Trước khi cho quần áo vào, luôn mở cửa tủ khoảng 2 đến 3 ngày để lớp sơn khô và mùi sơn nhanh bay. Nếu bận rộn, bạn có thể dùng quạt để thổi.


Bạn nên để đồ có chức năng khác nhau ra từng khu vực riêng. Ảnh: Modernghana.

2. Không chất quần áo chật cứng tủ

Theo phong thủy, để tủ quần áo không bị ứ đọng nguồn vượng khí thì bạn nên sử dụng nguyên tắc 50%, điều đó có nghĩa là bạn chỉ nên treo số lượng quần áo vừa phải, chiếm 50% diện tích tủ.

Ngoài ra, nên sắp xếp bên nào là quần, bên nào là áo sơ mi và phân biệt quần áo mùa đông, mùa hè... Nếu bạn cần đựng giày trong tủ, cố gắng đặt giày không chạm vào quần áo. Hãy bỏ đi những quần áo đã chật, cũ và không cần thiết hoặc những móc treo không dùng để tránh gây lộn xộn cho tủ. Bên ngoài cửa tủ, bạn có thể lắp một chiếc gương, vừa để mở rộng không gian vừa giúp bạn sửa sang quần áo.

3. Sắp xếp theo màu và chức năng

Bày trí quần áo theo hệ thống là cách giúp cho bạn dễ dàng tìm thấy chiếc mình cần. Chẳng hạn, bạn nên treo các áo sơ mi gần nhau, treo váy và trang phục sang một góc riêng. Đối với những chiếc giày dưới tủ, hãy sắp xếp chúng ngăn nắp và có mũi giày hướng ra cửa tủ.
5 nguyên tắc sắp xếp tủ quần áo

Tủ đồ quá lộn xộn sẽ khiến bạn tốn thời gian và cảm thấy mệt mỏi. Ảnh: Nymag.

4. Treo quần áo theo phong thủy

Bên cửa trái (hướng đại diện cho kiến thức và sự thịnh vượng) bạn hãy treo đồng phục và quần áo đi làm. Ở giữa tủ (sức khỏe, danh tiếng và sự nghiệp) treo những bộ dùng cho đi chơi. Nếu muốn thúc đẩy sự sáng tạo của bản thân, bạn có thể treo những trang phục yêu thích của mình thay vì gấp chúng lại.

5. Giữ kệ áo sạch sẽ

Kệ quần áo (phía trên phần treo quần áo) chỉ nên để đồ sáng màu như chiếc áo len màu trắng hoặc khăn màu be. Không nên để những quần áo không còn cần thiết hoặc chưa mặc bao giờ, vì điều đó chỉ tạo nên sự lộn xộn, trì trệ, gây xấu cho phong thủy của tủ.

Đăng Linh - Vnexpress.net

Bài trí phòng ăn hợp phong thủy

1. Hình dáng bàn ăn

Bàn ăn cần đặt ở trung tâm phòng để mọi người có thể quây quần xung quanh một cách thoải mái. Bàn ăn nên có hình bầu dục hoặc hình tròn vì đây là loại tượng trưng cho bầu trời. Nếu là bàn hình vuông, chữ nhật thì nên có các họa tiết hình tròn, bầu dục trang trí ở giữa bàn để kích thích dòng chảy năng lượng. Số lượng ghế trong phòng ăn cũng phải nhiều vì không một vị khách nào muốn mình phải ngồi ghế phụ.

Đối với vị trí của người chủ gia đình, không đặt ghế ở vị trí quay lưng ra cửa. Tốt nhất nên đặt ghế chủ nhà ở hướng đối diện với cửa để không bị bất ngờ với những điều không mong muốn.



Bạn nên sử dụng bàn ăn hình tròn, không có góc cạnh. Ảnh: Sedu.

2. Ánh sáng trong phòng ăn

Một phòng ăn đủ ánh sáng sẽ tốt cho dòng chảy năng lượng. Nến có thể được sử dụng như vật trang trí nhưng không được là nguồn sáng chính của phòng. Phòng ăn nên sử dụng đèn chùm đặt ở trung tâm căn phòng, ngay phía trên bàn ăn.

3. Màu sắc sơn tường, đồ nội thất

Phòng ăn nên được trang trí đơn giản nhưng thanh lịch, để mọi người không làm phân tâm khi ăn uống và trò chuyện. Màu sắc phù hợp giúp tạo ra bầu không khí lành mạnh và vui vẻ.

Có một số màu sắc được khuyến khích trong việc tạo phong thủy. Các màu như đỏ, vàng, xanh nhạt là lựa chọn có thể chấp nhận được. Màu xanh lá hoặc tím oải hương kích thích tiêu hóa và tạo chứng thèm ăn lành mạnh. Cũng có thể sử dụng màu hồng, xanh, vàng chanh vì chúng đem lại cảm giác bình yên. Màu cam là màu không nên dùng, trừ khi gia chủ muốn dọa đuổi khách đi.

4. Cách treo gương

Gương trong phòng ăn tạo cảm giác phong phú, dồi dào. Mọi vật dụng xuất hiện theo cặp đều được coi là may mắn trong phong thủy. Tuy nhiên, treo gương cũng cần chọn vị trí phù hợp, nếu treo sai sẽ có ảnh hưởng xấu. Gương nên treo ở độ cao vừa phải để mọi người có thể nhìn thấy khuôn mặt và phần vai.

Đăng Linh - Vnexpress.net